Luôn luôn đi cùng dân
Đường dây nóng: 024. 3733.43.09; 0888509566

Sơ lược một số nội dung về Trợ giúp pháp lý trên thế giới

T6, 23/08/2019 - 11:53 -- phuongthao

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một loại hoạt động phúc lợi xã hội được khởi nguồn từ nước Anh và đã có một lịch sử hơn 500 năm. Ngay từ thế kỷ 15, pháp luật Anh quốc đã quy định: “cần dành cho người nghèo khổ sự giúp đỡ để họ được hưởng quyền lợi mà pháp luật ban cho. Năm 1495, vua Henry VII trong một nghị án đã có quy định cụ thể hơn về vấn đề này: "chính nghĩa" cần được dành chung cho người nghèo và những người thực hiện quyền tự do họ được hưởng - điều đó không có gì thay thế được.

 

I. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CHẾ ĐỊNH TGPL TRÊN THẾ GIỚI

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một loại hoạt động phúc lợi xã hội được khởi nguồn từ nước Anh và đã có một lịch sử hơn 500 năm. Ngay từ thế kỷ 15, pháp luật Anh quốc đã quy định: “cần dành cho người nghèo khổ sự giúp đỡ để họ được hưởng quyền lợi mà pháp luật ban cho. Năm 1495, vua Henry VII trong một nghị án đã có quy định cụ thể hơn về vấn đề này: "chính nghĩa" cần được dành chung cho người nghèo và những người thực hiện quyền tự do họ được hưởng - điều đó không có gì thay thế được.

Tuy nhiên, trước thế kỷ 20, TGPL mới manh nha tại các nước vì khi đó nhà nước tư bản phát triển rất mạnh, phúc lợi xã hội kém, TGPL mới chỉ dừng lại ở ý tưởng của một số nhà chính trị tiến bộ, chứ chưa triển khai có tổ chức.  Ở một số nước châu Âu theo hệ thống luật án lệ như ở Anh, thì xuất phát từ yêu cầu phải có luật sư bảo vệ và quyền được xét xử công bằng, xuất phát từ công lý đòi hỏi nhằm tránh những vụ án oan nên ban đầu là các luật sư với nghĩa vụ bảo đảm công lý đã giúp các bên trên cơ sở tự nguyện, thiện nguyện (Pro bono basic).

Ở Mỹ, ngay từ nửa cuối của thế kỷ 19 khi các bang của Mỹ thành lập Hiệp hội luật sư và các tổ chức tương tự cũng quy định rõ quy phạm hành vi đạo đức của luật sư, trong quy phạm hành vi đạo đức này có một nội dung tương đối quy củ là “quy tắc hành vi TGPL của luật sư”. Sau đó không lâu, để làm nổi bật hơn nội dung TGPL, một Hiệp hội luật sư của Mỹ đã chuyển hướng tập trung sáng lập một hình thức mới để giải quyết vấn đề TGPL cho người nghèo. Hình thức này có tổ chức hơn và mang tính quy phạm hơn, coi đây là một thiên chức của luật sư.

Ở Pháp (là nước tiêu biểu trong số các nước theo hệ thống luật lục địa), sau khi giai cấp tư sản giành được chính quyền, ở các hiệp hội luật sư dần dần hình thành một tập quán là trước toà, luật sư biện hộ cho người nghèo không thu phí. Đến năm 1851, tập quán này trở thành một chế định trong pháp luật, gọi là “Luật luật sư trợ giúp”. Đối với vụ án bị xử tội nặng thì phải chỉ định luật sư biện hộ cho bị cáo. Với những vụ án xử tội danh nhẹ, Chánh án cũng có thể chỉ định biện hộ nếu bị cáo yêu cầu và chứng minh được mình thực sự nghèo khó. Ngoài ra, đối với các vụ án tranh chấp liên quan đến tiền dưỡng lão, phạm tội vị thành niên, tai nạn nghề nghiệp, tiền công lao động, thất nghiệp..., pháp luật cũng quy định đều phải có sự trợ giúp khi tiến hành xét xử.

Đầu thế kỷ 20, nhiều quốc gia Châu Âu vẫn chưa thiết lập cơ chế thực hiện TGPL và người nghèo phụ thuộc vào sự từ thiện của các luật sư khi thực hiện TGPL. Vì vậy, hầu hết các quốc gia đã ban hành pháp luật quy định việc thanh toán một khoản chi phí vừa phải để trả cho luật sư nghĩa vụ (duty solicitors). Trong thế kỷ 20, những người hành nghề luật dần cho rằng bản thân có trách nhiệm giúp đỡ những người có thu nhập thấp, do đó TGPL đã được thúc đẩy bởi các luật sư có khả năng để đáp ứng “nhu cầu pháp lý” cho những người mà họ xác định là người nghèo, người bị thiệt thòi hay bị phân biệt đối xử. Các chương trình TGPL được xây dựng để bảo đảm trách nhiệm hỗ trợ của Nhà nước cho những người có tranh chấp pháp luật, trước hết là trong lĩnh vực pháp luật về gia đình và ly hôn. Vào những năm 1950, 1960, vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm phúc lợi xã hội có sự thay đổi, được mở rộng. Các cơ chế được thiết lập để thông qua đó công dân có thể thực hiện các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của họ một cách hợp pháp và luật sư trợ giúp thực hiện TGPL để tư vấn cho những người có thu nhập thấp khi làm việc với các nhân viên nhà nước. TGPL đã được mở rộng từ phạm vi pháp luật về gia đình sang các quyền về kinh tế, văn hóa và xã hội.

Đặc biệt, sau đại chiến thế giới lần thứ hai, có thể nói là một trận tự thế giới mới được thiết lập, phong trào giải phóng dân tộc, đòi độc lập xảy ra ở  nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Giai đoạn này chủ nghĩa tư bản dần có nhiều thay đổi, các nước tư bản tập trung hơn các vấn đề xã hội, đặc biệt là vấn đề phúc lợi xã hội, trách nhiệm xã hội của nhà nước được quan tâm hơn, vì trên thế giới các nước XHCN được thành lập đối trọng với chủ nghĩa tư bản, nên án chế độ bóc lột, độc tài của chủ nghĩa tư bản. Do vậy, hệ thống TGPL đã được thành lập tại Anh (1949), Ontario (1951) và phát triển rộng khắp tại nhiều nước trên thế giới như Hà Lan năm 1970, Thuỵ Sỹ 1972, Đức 1981, Hàn Quốc 1972, Trung Quốc 1996... Trong khu vực Đông Nam Á, TGPL đã xuất hiện ở Singapore, Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Campuchia. Bên cạnh đó, TGPL đã được quy định trong nhiều Công ước quốc tế như Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp quốc năm 1948, Công ước châu Âu về quyền chính trị và dân sự năm 1976, Công ước châu Âu về nhân quyền năm 1953... Việc duy trì trật tự luật pháp trong một xã hội tự do được nhiều nước quan tâm và việc tiếp cận luật pháp của người giàu cũng như của người nghèo là cần thiết đối với việc duy trì trật tự pháp luật, do đó, cần phải tư vấn và đại diện pháp lý phù hợp cho những người mà cuộc sống, tài sản, tự do, danh dự bị đe doạ nhưng không có khả năng chi trả dịch vụ pháp lý.

Ở Hoa Kỳ: Ngày 18/3/1963 đánh dấu một trong những sự kiện rất quan trọng trong lịch sử pháp luật của Hoa Kỳ. Đó là sự ra đời của “nguyên tắc Gideon” (Gideon ruling) - nguyên tắc bảo đảm quyền có luật sư bảo vệ cho người nghèo không có khả năng thuê luật sư. Tòa án tối cao hợp chủng quốc Hoa Kỳ nhất trí công bố trong vụ kiện Gideon v. Wainwright sửa đổi bổ sung lần thứ sáu nguyên tắc bảo đảm cho mọi bị can, bị cáo (criminal defendant) phạm trọng tội có quyền được có luật sư. Thẩm phán Hugo Black đã viết: Lý trí và sự suy ngẫm khiến chúng ta nhận ra rằng, trong hệ thống tư pháp hình sự tranh tụng (adversary) của chúng ta, bất kỳ người nào bị đưa ra tòa, mà người đó quá nghèo và không thể thuê được luật sư, sẽ không thể bảo đảm việc xét xử công bằng trừ khi có luật sư được cử để giúp đỡ anh ta” . Nguyên tắc trên xuất phát từ vụ việc của Clarence Earl Gideon, một người đàn ông nghèo bị buộc tội trộm cắp vặt ở bang Florida. Trong các cấp xét xử đều không có luật sư bào chữa Gideon  bị kết tội. Gideon đã kháng cáo lên Tòa án tối caothẩm phán của Tòa Warren đã tìm hiểu tại sao không có luật sư bảo về cho Gideon và được biết Gideon không có tiền thuê luật sư. Thẩm phán đã yêu cầu chỉ định luật sư cho Gideon và xét xử lại đảm bảo có một phiên tòa công bằng. Kết quả là, tại phiên xét xử lại một luật sư dày dạn kinh nghiệm đã được cử để bảo vệ Gideon và ông ta được trắng án. Vụ án Gideon được xem là một tiền lệ nổi tiếng của Tòa án tối cao Hoa Kỳ và được coi là một minh chứng phổ biến cho những vụ việc sau đó. Việc duy trì án lệ Gideon, giúp cho các công tố viên công bằng và trung thực hơn khi thi hành nhiệm vụ; giúp các thẩm phán cẩn trọng hơn ở giai đoạn chuẩn bị trước khi xét xử. Nguyên tắc Gideon không thể nghi ngờ đã đưa đến kết quả đúng đắn hơn cho việc xét xử. TGPL ở Mỹ đã được phát triển mạnh mẽ từ sau vụ án Gideon.

Đến những năm 1980, vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm phúc lợi xã hội cơ bản không còn là tuyệt đối, các chủ thể thuộc khu vực tư nhân ngày càng tham gia nhiều hơn vào việc cung cấp phúc lợi xã hội. Điều này dẫn đến việc người thực hiện TGPL ở khu vực tư nhân ngày càng tăng, tuy nhiên, trách nhiệm của Nhà nước vẫn duy trì và tập trung vào hỗ trợ trong các vụ tố tụng. Người dân dần trở thành khách hàng và họ có quyền lựa chọn giữa các dịch vụ của Nhà nước hoặc của khu vực tư nhân. Như vậy, từ yêu cầu bảm đảm công lý trong tố tụng hình sự, TGPL ngày càng được mở rộng hơn sang cả tư vấn pháp luật, đại diện trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Hình thức thực hiện TGPL cũng đa dạng, phong phú như gặp trực tiếp, qua thư, điện thoại... Đối tượng TGPL không chỉ giới hạn ở người nghèo mà được mở rộng ra những đối tượng khác như trẻ em, phụ nữ là nạn nhân của tệ nạn buôn bán phụ nữ, bạo lực gia đình, người già cô đơn, người tị nạn, người dân tộc thiểu số...

Đến ngày 20/12/2012, Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã thông qua bản Các Nguyên tắc và hướng dẫn tiếp cận TGPL trong tư pháp hình sự, với 14 nguyên tắc và 18 hướng dẫn. Theo đó, TGPL được thừa nhận là thành tố cơ bản trong hệ thống tư pháp hình sự dựa trên nguyên tắc pháp quyền, là cơ sở cho việc thụ hưởng các quyền khác, bao gồm quyền có phiên toà xét xử công bằng và là một sự bảo đảm quan trọng để bảo đảm sự công bằng cơ bản và niềm tin của công chúng đối với tiến bộ của hệ thống tư pháp hình sự. Nhà nước cần bảo đảm quyền được TGPL trong hệ thống pháp luật quốc gia ở mức độ cao nhất có thể.

Ngày nay, hệ thống pháp luật ngày càng  phức tạp, ngay cả người được đào tạo về pháp luật đôi khi cũng không hiểu hết các quy định của pháp luật và khi có vướng mắc pháp luật hay phải đứng trước toà án cũng không chắc chắn có thể bảo vệ thành công quyền lợi của mình. Do đó, một công dân không có kiến thức pháp luật và không có kỹ năng thì dù không phạm tội cũng không thể chứng minh được sự vô tội của mình.

Nhiều cuộc tranh luận trên thế giới đã đi đến sự khẳng định rằng, TGPL là cần thiết. Nó cần thiết đối với việc củng cố luật pháp, với việc xây dựng nhà nước pháp quyền và có tầm quan trọng như một bộ phận không thể tách rời của việc thực thi công lý và cũng cần thiết như một bộ phận không thể thiếu trong quá trình xét xử. Đến nay, TGPL đã phát triển ở các quốc gia với các mức độ, phương thức khác nhau, đa dạng về cách thức vận hành tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố ở quốc gia đó như điều kiện kinh tế - xã hội, chế độ chính trị, hệ thống pháp luật. TGPL là một chính sách được rất nhiều nước quan tâm, coi đây là một thành tố cơ bản của một hệ thống tư pháp hình sự hoạt động hiệu quả dựa trên nguyên tắc pháp quyền. Một số nước, ngoài việc ban hành Luật TGPL, bố trí kinh phí cho hoạt động này còn ghi nhận quyền được TGPL trong Hiến pháp, ví dụ Mỹ, Kosovo, Nam Phi, Ấn Độ, Bỉ, Tây Ban Nha,… Trong 10 nước khối ASEAN thì có 03 quốc gia (Lào, Phillipine, Thái Lan)

Xu hướng phát triển chung của các nước trên thế giới đều mong muốn cung cấp cho người được TGPL dịch vụ có chất lượng một cách kịp thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, góp phần bảo đảm quyền con người trong tiếp cận công lý.

II. KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT CỦA TGPL VÀ CÁCH TIẾP CẬN CHẾ ĐỊNH TGPL

Các nước sử dụng thuật ngữ TGPL bao gồm các từ là “legal aid”, “legal support” hoặc “legal assistance”. Tuy nhiên, đa số các ý kiến cũng như pháp luật các nước sử dụng cụm từ TGPL là “legal aid” trong tiếng Anh. “TGPL” (legal aid) có nghĩa là “trợ cấp pháp lý” ; “trợ cấp chi phí về pháp lý (trích từ quỹ phúc lợi công cộng)”. Thuật ngữ này trong cụm từ “legal aid scheme” được dịch là “kế hoạch bảo trợ tư pháp” - kế hoạch nhằm chi trả những chi phí pháp lý từ công quỹ cho những ai không thể tự mình trả nổi  hoặc “là khoản tiền được cung cấp bởi Chính phủ hoặc một tổ chức xã hội khác cho những người cần có được sự giúp đỡ chi trả chi phí cho việc cung cấp lời khuyên pháp lý hoặc phí dịch vụ của luật sư”. Cùng với thuật ngữ TGPL, thì ở các nước còn sử dụng thuật ngữ “Pro bono” (thiện nguyện) để chỉ việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho các đối tượng trong xã hội và người thực hiện dịch vụ thiện nguyện không được hưởng bất kỳ khoản thù lao nào. Tuy có cùng mục đích là góp phần bảo đảm quyền tiếp cận công lý nhưng trên thế giới có sự phân biệt rõ ràng giữa TGPL (legal aid) và dịch vụ pháp lý miễn phí (pro bono) về đối tượng thụ hưởng, thù lao cho người thực hiện.

Về mặt pháp lý, giữa các hệ thống pháp luật khác nhau, kỹ thuật lập pháp khác nhau thì khái niệm TGPL cũng được quy định khác nhau. Các nước thuộc hệ thống thông luật định nghĩa TGPL theo hướng khái quát, thiên về việc quy định ai là đối tượng được TGPL và đặc biệt nhấn mạnh mục tiêu của TGPL là bảo đảm công bằng trong tiếp cận công lý:

Ở Anh, TGPL là một dạng phúc lợi xã hội do Nhà nước bảo đảm để những những người không có khả năng trả tiền cho luật sư đều có thể tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ pháp lý miễn phí .

Ở Mỹ, tại Điều 1001 Đạo luật về công ty dịch vụ pháp lý được sửa đổi năm 1977 quy định: TGPL là tạo sự công bằng khi tiếp cận pháp luật của các cá nhân không thể thuê mướn Luật sư, tạo cơ hội cho những người có thu nhập thấp.

Ở Úc, quy định của mỗi Bang có sự đặc thù, Điều 5 Luật TGPL của bang Queensland (Úc) quy định: TGPL (legal assistance) là việc cung cấp dịch vụ pháp lý bao gồm tư vấn pháp luật miễn phí hoặc trả phí thấp hơn chi phí của dịch vụ. Tại Bang Victoria, TGPL nghĩa là: (a) Giáo dục, tư vấn, thông tin pháp luật; (b) Bất cứ dịch vụ pháp luật nào do luật sư cung cấp; (c) Các dịch vụ khác trong phạm vi thẩm quyền của TGPL, bao gồm dịch vụ của luật sư theo nghĩa vụ, tư vấn pháp luật và hỗ trợ pháp luật (Điều 2 Mục I Luật TGPL bang Victoria năm 1978 của Australia).

Các nước thuộc hệ thống luật dân sự định nghĩa TGPL theo hướng liệt kê chi tiết, cụ thể các yếu tố cấu thành TGPL như các dịch vụ pháp lý sẽ được cung cấp, miễn phí hay không miễn phí; đối tượng được TGPL; và người thực hiện TGPL là ai.

Ở Đức, TGPL là giúp đỡ một phần hoặc toàn bộ tài chính cho những người không có khả năng thanh toán cho các chi phí về tư vấn pháp luật, đại diện hoặc bào chữa trước toà.

Ở Hàn Quốc, TGPL được hiểu là việc một luật sư hoặc một cán bộ pháp lý Nhà nước cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật, đại diện hoặc các dịch vụ trợ giúp khác có liên quan đến pháp luật (Điều 2, Luật TGPL Hàn Quốc).

Ở Phần Lan, TGPL bao gồm quy định về tư vấn pháp luật, các biện pháp cần thiết, việc đại diện trước Toà án và cơ quan có thẩm quyền khác và việc miễn trừ các chi phí giải quyết vụ việc cụ thể theo quy định của Luật này (điểm 2 phần 1 Luật TGPL số 257/2002).

Ở Nam Phi, Luật TGPL được ban hành để “đảm bảo tiếp cận công lý và việc thực hiện các quyền của người được TGPL như quy định trong Hiến pháp và để cung cấp tư vấn và TGPL” (Lời nói đầu Luật TGPL Nam Phi năm 2013).

Ngoài ra, tại một số nước theo hệ thống pháp luật khác như các nước theo hệ thống pháp luật tôn giáo như Ấn Độ hay nước có hệ thống pháp luật phức tạp như Indonesia (chịu ảnh hưởng bởi pháp luật án lệ, pháp luật dân sự và truyền thống pháp luật Indonesia ) cũng có những quy định riêng về TGPL. Ở các nước này, TGPL được quy định theo hướng đan xen hai khái niệm TGPL của hai hệ thống pháp luật trên và gắn với một số đặc điểm đặc thù do tôn giáo hay điều kiện kinh tế - xã hội chi phối.

Như vậy, bản chất TGPL ở các nước đều có các đặc điểm như sau: (1) TGPL do Nhà nước được hiểu là một phần của chính sách xã hội mà Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm; (2) Đối tượng được TGPL là người nghèo và các đối tượng yếu thế khác trong xã hội; (3) Mục đích của TGPL là hướng tới việc bảo đảm công bằng trong tiếp cận công lý cho các đối tượng TGPL thông qua việc cung cấp dịch vụ (mặc dù nội dung này có thể không nêu rõ trong khái niệm TGPL nhưng trong tổ chức và hoạt động đều hướng tới mục đích này).

Ngoài ra, do xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau trong việc bảo đảm quyền có luật sư bảo vệ trong tố tụng hình sự và tố tụng dân sự, các quốc gia theo hệ thống dân luật và các quốc gia theo hệ thống thông luật có sự phát triển khác nhau về TGPL. Nếu như các quốc gia theo hệ thống pháp luật dân luật thường nhấn mạnh quyền có luật sư bảo vệ trong tố tụng dân sự và vì vậy nội hàm của TGPL thường bao gồm cả lĩnh vực dân sự, cụ thể là Nhà nước sẽ cử luật sư giúp đối tượng được TGPL trong lĩnh vực dân sự. Trong khi đó, các quốc gia theo hệ thống thông luật lại nhấn mạnh quyền có luật sư bảo vệ và việc cung cấp TGPL ban đầu trong lĩnh vực pháp luật tố tụng hình sự nhằm đảm bảo quyền con người và quyền tự do của mỗi cá nhân trong xã hội. Có thể vì lý do này mà TGPL ở các nước này phát triển mạnh hơn so với các nước theo hệ thống dân luật, bởi vì nhu cầu hỗ trợ trong việc bảo vệ quyền của đương sự trong tố tụng hình sự cần được thực hiện một cách kịp thời, nhất là khi đương sự đang có nguy cơ tước quyền tự do.

III. CÁC MÔ HÌNH TGPL TRÊN THẾ GIỚI

Nhìn chung, trên thế giới hiện nay có 3 mô hình TGPL chủ yếu, đó là: mô hình luật sư công (mô hình do Nhà nước thực hiện hoàn toàn), mô hình TGPL do luật sư và tổ chức xã hội thực hiện hoàn toàn, mô hình hỗn hợp (TGPL do Nhà nước thành lập tổ chức thực hiện và thu hút luật sư, các tổ chức xã hội tham gia). Tuy nhiên, xu hướng phổ biến nhất hiện nay là hệ thống TGPL theo mô hình hỗn hợp.

1. Mô hình luật sư công

Theo mô hình này Nhà nước trực tiếp thực hiện toàn bộ các vụ việc TGPL bằng cách thành lập ra hệ thống của mình, tuyển dụng đội ngũ người thực hiện TGPL và cấp kinh phí cho hệ thống hoạt động. Qua nghiên cứu mô hình TGPL của các nước thì thấy rằng, không có nhiều nước áp dụng mô hình này.

Hiện nay, Phillipine và Achentina là các nước theo mô hình này và có các ưu điểm như sau (1) Nhà nước hoàn toàn chủ động trong việc xây dựng và thống nhất tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch TGPL của mình trong phạm vi toàn quốc; (2) Tổ chức và người thực hiện TGPL chủ động, không bị phụ thuộc vào đội ngũ luật sư tư trong việc thực hiện vụ việc; có điều kiện tập trung đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trong tất cả các lĩnh vực TGPL, kể cả những lĩnh vực không có luật sư tư tham gia; (3) Nhà nước chủ động và thống nhất quản lý công tác TGPL; chủ động giám sát, kiểm tra, đánh giá chất lượng vụ việc TGPL thông qua hệ thống các cơ quan và người thực hiện TGPL của Nhà nước.

Nhược điểm của mô hình này là: (1) Do chỉ có hệ thống TGPL của Nhà nước nên người được TGPL chỉ được lựa chọn người thực hiện TGPL là người do Nhà nước tuyển dụng, không thể lựa chọn luật sư tư; (2) Trong trường hợp nhu cầu TGPL của người dân lớn gây ra sự quá tải, tạo áp lực cho người thực hiện TGPL của Nhà nước; (3) Một số trường hợp khó bảo đảm tính độc lập, khách quan trong quá trình xử lý vụ việc do mối quan hệ giữa cơ quan TGPL của Nhà nước và các cơ quan tố tụng trong cùng hệ thống bộ máy của Nhà nước; (4) Nguồn nhân lực và tài chính cho TGPL hoàn toàn phụ thuộc vào Chính phủ, nên có thể gây áp lực cho ngân sách nhà nước nhất là khi phải đáp ứng nhu cầu TGPL ngày càng tăng của xã hội.

2. Mô hình luật sư tư

Theo mô hình này, cơ quan nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về TGPL, xây dựng kế hoạch, chính sách, xem xét điều kiện TGPL, giao vụ việc cho luật sư và các tổ chức xã hội thực hiện, nghiệm thu vụ việc và thanh toán thù lao cho người thực hiện TGPL. Qua nghiên cứu thì thấy rằng rất ít nước tổ chức hệ thống TGPL theo mô hình này như Indonesia, Hungary, Ý, Tây Ban Nha. Ưu điểm của mô hình này là: Nhà nước không cần thành lập hệ thống các cơ quan TGPL nên Nhà nước không cần đầu tư trụ sở, trang thiết bị; không phải tuyển dụng, đào tạo và quản lý đội ngũ cán bộ và không phải trả lương, các chi phí hành chính cho đội ngũ người thực hiện TGPL của Nhà nước mà sử dụng luật sư và các tổ chức xã hội. Nhược điểm của mô hình này là (1) Việc thực hiện TGPL hoàn toàn phụ thuộc vào đội ngũ luật sư tư, do đó, Nhà nước không chủ động trong việc cử luật sư thực hiện TGPL; (2) Chi phí thực hiện vụ việc TGPL của luật sư tư cao; (3) Việc quản lý, đánh giá vụ việc và chi trả thù lao cho luật sư tư và tổ chức xã hội khá phức tạp, đòi hỏi cơ quan TGPL và các luật sư phải có sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ thông tin. (4) Nhà nước phải phụ thuộc vào luật sư, do đó khi luật sư có yêu sách, nhà nước phải đáp ứng, nếu không họ không thực hiện TGPL.

Mặc dù hiện nay, tất cả các mô hình TGPL trên vẫn còn được sử dụng, tuy nhiên, chúng ta thấy xu hướng ngày càng có nhiều quốc gia chuyển dịch từ mô hình luật sư tư thực hiện sang các mô hình hỗn hợp có sự tham gia tích cực của Nhà nước. Một số nước đã từng áp dụng mô hình này đã chuyển đổi sang mô hình hỗn hợp. Ví dụ, trước năm 2006 tại Nhật Bản, hoạt động TGPL giao hoàn toàn cho Liên đoàn luật sư. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, Liên đoàn luật sư đã không bảo đảm đáp ứng nhu cầu TGPL của người dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa. Do đó, Nhà nước đã thành lập hệ thống TGPL của Nhà nước và ký hợp đồng với luật sư tư để thực hiện một số vụ việc. Tại Nam Phi, từ năm 1969 công việc TGPL được giao cho luật sư; sau một thời gian thực hiện thấy rằng cơ quan nhà nước không thể kiểm soát yêu cầu chi phí thực hiện TGPL của luật sư tư cũng như chất lượng dịch vụ pháp lý cung cấp cho người được TGPL. Nhiều luật sư kê khống thời gian thực hiện TGPL và yêu cầu Nhà nước trả tiền. Do đó, Nam Phi đã nghiên cứu xây dựng thí điểm mô hình tổ chức TGPL của Nhà nước, tuyển dụng các luật sư làm việc thường xuyên tại tổ chức và trả lương hàng tháng, bên cạnh đó Nhà nước cũng có cơ chế huy động luật sư tư thực hiện TGPL thông qua ký hợp đồng vụ việc.

3. Mô hình hỗn hợp

 Theo mô hình này, các nước thành lập hệ thống TGPL của Nhà nước, ký hợp đồng với các tổ chức xã hội hoặc luật sư tham gia thực hiện TGPL và trả thù lao cho luật sư, tổ chức xã hội. Mô hình này là sự kết hợp của 02 mô hình trên, nên có thể phát huy được hiệu quả, ưu điểm, đồng thời khắc phục những hạn chế của 02 mô hình trên. Hiện nay, rất nhiều nước áp dụng mô hình này (Nhật Bản, Ailen, bang Victoria, Queensland (Úc), Mỹ, Nam Phi, Hàn Quốc, bang Ontario (Canada), Malaysia, Israel,…). Đây là mô hình phổ biến nhất hiện nay trên thế giới và cũng là mô hình được đánh giá hiệu quả nhất, phát huy được ưu điểm và khắc phục được những bất cập, hạn chế của 2 mô hình kia (mô hình do Nhà nước thực hiện hoàn toàn và mô hình do luật sư thực hiện hoàn toàn), cụ thể như sau: (1) Mô hình này cho phép sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước và xã hội do kết hợp và phát huy được các lợi thế của người thực hiện TGPL của Nhà nước và các luật sư tư, các tổ chức xã hội. Thực tiễn cho thấy, mô hình này đã mang lại hiệu quả cao trong công tác TGPL; (2) Do có đội ngũ người thực hiện TGPL của Nhà nước nên Nhà nước bảo đảm đáp ứng kịp thời nhu cầu TGPL của người dân ở những địa bàn khác nhau (ngay cả vùng sâu, vùng xa, nơi không có hoặc có rất ít luật sư tư), không bị quá lệ thuộc vào đội ngũ luật sư tư; đồng thời, Nhà nước có thể chủ động điều phối các nguồn lực (kể cả nhân lực và kinh phí) ở mọi thời điểm, bảo đảm cho công tác TGPL phát triển ổn định và hiệu quả, thông qua đó Nhà nước thực hiện tốt trách nhiệm của mình trong công tác công tác TGPL; (3) Nhà nước có thể huy động được các nguồn lực khác nhau trong xã hội tham gia công tác TGPL. Căn cứ vào nhu cầu TGPL của người dân và nguồn kinh phí dành cho công tác TGPL, Nhà nước có thể lựa chọn và ký hợp đồng TGPL với các luật sư tư, tổ chức tham gia TGPL và điều phối vụ việc TGPL trong những trường hợp cần thiết; (4) Đội ngũ người thực hiện TGPL của Nhà nước hoạt động ổn định do họ được tuyển dụng, được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ theo chính sách phát triển của Nhà nước và được trả lương theo quy định chung của Nhà nước; (5) Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa người thực hiện TGPL của Nhà nước và luật sư tư nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm chi phí vụ việc. Vì vậy, người được TGPL có cơ hội được hưởng dịch vụ TGPL tốt hơn.

IV. HỆ THỐNG TGPL MỘT SỐ NƯỚC

1. Ở Châu Á

1.1. Trợ giúp pháp lý ở Hàn Quốc

Hệ thống TGPL được tổ chức theo ngành dọc. Cơ quan quản lý TGPL là Tổng công ty TGPL; các đơn vị trực thuộc gồm 18 Văn phòng đại diện, 40 Chi nhánh và 63 tiểu Chi nhánh tại các địa phương có trụ sở cơ quan cảnh sát điều tra. Các đơn vị trực thuộc trực tiếp thực hiện TGPL. Tổng công ty thực hiện chức năng quản lý và cấp phát kinh phí, quản lý nhân sự đối với địa phương, thực hiện công tác hành chính, thanh tra công tác TGPL tại địa phương, quảng bá hoạt động TGPL, hợp tác quốc tế. Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty gồm có Chủ tịch, Tổng thư ký, 2 ban (Ban truyền thông, Ban thanh tra) và 3 Vụ (Vụ Chính sách và TGPL, Vụ hành chính, Vụ Tài chính). Chủ tịch Tổng công ty TGPL được Quốc hội phê chuẩn trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và phải báo cáo, trả lời chất vấn tại Quốc hội về công tác TGPL.

Tính đến năm 2013, tổng số nhân viên của Tổng công ty TGPL là 950 người, trong đó có hơn 250 luật sư công hưởng lương từ ngân sách nhà nước, mức lương tương đương với mức lương của công tố viên. Hàng năm, ngân sách do Chính phủ cấp chiếm khoảng 45% tổng chi phí của Tổng công ty TGPL, phần còn lại do huy động các nguồn lực khác (Bộ, tổ chức, cá nhân). Theo quy định của pháp luật Hàn Quốc thì một số cơ quan, tổ chức phải có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi cho các đối tượng do cơ quan, tổ chức đó quản lý. Đồng thời, một số tổ chức doanh nghiệp không có điều kiện về nhân lực và chuyên môn để giải quyết các vấn đề pháp lý của thành viên của tổ chức mình, do đó, họ đã đóng góp kinh phí cho Tổng công ty TGPL để Tổng công ty TGPL sử dụng phần kinh phí đó TGPL cho thành viên của cơ quan, tổ chức đóng góp.

Đối tượng TGPL

Đối tượng TGPL là công dân Hàn Quốc và người nước ngoài đang sống tại Hàn Quốc, bất kể họ có đủ điều kiện lưu trú tại Hàn Quốc hay không. Dịch vụ pháp lý miễn phí cho người nước ngoài được thực hiện từ năm 2000, chỉ áp dụng đối với người nước ngoài cư trú tại Hàn Quốc có mức thu nhập dưới 1,5 triệu won/tháng (khoảng 1.230 USD) trong các vụ việc dân sự (giới hạn trong phạm vi vấn đề tiền lương, tai nạn lao động xuất phát từ các hợp đồng lao động). Tuy nhiên, từ năm 2003, phạm vi TGPL cho nhóm đối tượng này đã mở rộng ra tất cả các hành vi dân sự. Đến năm 2004, dịch vụ này mở rộng sang cả các vụ án hình sự và cho nhóm đối tượng là người nước ngoài cư trú tại Hàn Quốc có mức thu nhập dưới 2,4 triệu won/tháng (khoảng 2.118 USD). Từ năm 2007 đến năm 2013, người nước ngoài có thể được TGPL như người Hàn Quốc dưới hình thức đại diện trong các vụ việc dân sự và gia đình cũng như được bào chữa trong các vụ án hình sự. Ngoài ra, theo thỏa thuận giữa Tổng công ty TGPL và những nhà tài trợ thì một số đối tượng sẽ được TGPL hoàn toàn miễn phí như nông dân, người khuyết tật, người có công,…

Lĩnh vực TGPL: Hình sự; Dân sự; Hành chính.

Kinh phí cấp cho hoạt động TGPL: Tổng công ty TGPL sử dụng kinh phí từ các nguồn sau: Kinh phí từ Chính phủ; Tiền mặt và tài sản đóng góp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; Kinh phí triển khai các dự án; Tiền thu được từ hoạt động kinh doanh của Tổng công ty; Các nguồn thu khác.

2. Israel

Các hoạt động TGPL do Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm quản lý nhà nước, sử dụng nguồn ngân sách nhà nước và được chia theo lĩnh vực hình sự và dân sự. Bộ Tư pháp có 02 cơ quan chịu trách nhiệm về trợ giúp pháp lý  bao gồm: Văn phòng Luật sư công phụ trách trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực hình sự và Cục Trợ giúp pháp lý phụ trách trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực dân sự.

2.1. Tổ chức TGPL

a) Văn phòng luật sư công

Bộ Tư pháp thành lập và quản lý Văn phòng Luật sư công cấp quốc gia và 6 Văn phòng Luật sư công cấp quận để thực hiện TGPL trong lĩnh vực hình sự. Văn phòng Luật sư công cấp quốc gia và các Văn phòng Luật sư công cấp quận được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Luật sư công năm 1995, các Văn phòng Luật sư công có các Ban chuyên trách thực hiện những nhiệm vụ cụ thể (như Ban vị thành niên, Ban tạm giam, Ban tranh tụng, Ban kết án oan sai, Ban trại giam và tù nhân, Ban luật dân sự, Ban chỉ định luật sư...). Văn phòng Luật sư công cấp quốc gia có thêm Ban xây dựng chính sách.

Văn phòng Luật sư công hoạt động trên nguyên tắc đảm bảo việc tuân thủ các nghĩa vụ đạo đức của luật sư, tính độc lập, vị trí bình đẳng giữa Luật sư công và công tố viên; trung thành với khách hàng; hoạt động vì lợi ích của khách hàng; chịu trách nhiệm cá nhân; đảm bảo chất lượng đại diện bằng cách lựa chọn luật sư có khả năng và phù hợp với đặc thù của vụ kiện cũng như hỗ trợ tư vấn giám sát, theo dõi các luật sư công làm việc cho Văn phòng.

Văn phòng Luật sư công có nhiệm vụ tham gia xây dựng pháp luật; thực hiện thiết chế ”Bạn của tòa án”; điều tra các điều kiện của nhà tù thông qua những lần viếng thăm nhà tù; tham gia các diễn đàn, Ủy ban cộng đồng; phối hợp với các tổ chức giáo dục và cơ quan Cục cải tạo; phối hợp với các tổ chức giáo dục quốc tế và các quốc gia khác để học hỏi kinh nghiệm nhằm thực hiện các nhiệm vụ tốt hơn.

Các hoạt động TGPL hình sự được thực hiện từ khi đương sự bị bắt tại các đồn cảnh sát (trợ giúp pháp lý tại đồn cảnh sát không yêu cầu người bị bắt xuất trình tài liệu chứng minh thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý), tại nhà tù và qua các cấp xét xử tòa án, bao gồm tư vấn cho người bị tạm giam, tạm giữ trong quá trình điều tra (dịch vụ được cung cấp 24h/24h và trong tất cả các ngày từ thứ 2 đến chủ nhật), tham gia các phiên tòa, đại diện pháp lý cho bị can, bị cáo trong quá trình xét xử, hỗ trợ kháng cáo và thực hiện các thủ tục sau xét xử, đại diện pháp lý trong thực hiện các thủ tục hành chính trong quá trình tố tụng (đơn xin giảm án...). Ngoài ra, TGPL được thực hiện thường xuyên đối với các tù nhân.

b) Cục Trợ giúp pháp lý

Bộ Tư pháp thành lập Cục TGPL để quản lý nhà nước về TGPL trong lĩnh vực dân sự. Cục TGPL đứng đầu là Cục trưởng, bên dưới có bộ phận quản lý hoạt động TGPL giúp việc. Cục có 6 Văn phòng TGPL ở 6 khu vực khác nhau trực tiếp thực hiện vụ việc TGPL.

Cục Trợ giúp pháp lý đảm nhận nhiều chức năng: xây dựng các chính sách về TGPL; xét duyệt đơn xin TGPL của người dân; lựa chọn các luật sư tư để ký hợp đồng; quản lý các hợp đồng với những luật sư tư thuê ngoài; cung cấp các dịch vụ trợ giúp pháp lý cho khách hàng tương tự như các công ty/văn phòng luật sư.

Hoạt động TGPL dân sự được thực hiện dựa trên Luật TGPL được ban hành vào năm 1972 và Quy chế TGPL năm 1973. Trợ giúp pháp lý dân sự bao gồm tư vấn pháp luật và đại diện tố tụng do những luật sư được Cục Trợ giúp pháp lý bổ nhiệm và ký hợp đồng thực hiện. Từ năm 1995 đến 2015, số lượng các vụ việc TGPL trong lĩnh vực dân sự đã tăng 350% (năm 1995 có 20.141 vụ việc, con số này trong năm 2015 là 73.908 vụ việc).

Cục Trợ giúp pháp lý áp dụng triệt để công nghệ thông tin vào công việc quản lý dữ liệu. Cục đã xây dựng một hệ thống lưu trữ hồ sơ (bao gồm các thông tin về người được trợ giúp pháp lý). Kho dữ liệu này sẽ giúp các luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý có thể tiếp cận với dữ liệu một cách dễ dàng hơn. Nếu như trước đây, khi muốn tìm hiểu về thông tin nào đó, luật sư cần gửi fax hay gọi điện đến Cục Trợ giúp pháp lý thì nay họ có thể truy cập thông tin thông qua Kho dữ liệu.

2.2. Người thực hiện TGPL

Người thực hiện trợ giúp pháp lý bao gồm luật sư công và các luật sư tư ký hợp đồng với Cục trợ giúp pháp lý và Văn phòng Luật sư công. Các văn phòng cấp quận của Cục trợ giúp pháp lý và Văn phòng Luật sư công ký hợp đồng với luật sư tư để thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý, các luật sư tư được trả thù lao theo vụ việc.

Luật sư công của Nhà nước bao gồm luật sư công cấp quốc gia và luật sư công cấp quận. Hiện tại, số lượng luật sư công ở Israel không nhiều, chỉ khoảng 220 người (120 luật sư công thực hiện TGPL hình sự và 100 luật sư công thực hiện TGPL dân sự). Theo Luật về luật sư công 1995, để trở thành luật sư công cấp quốc gia, một người cần có thời gian công tác pháp luật ít nhất 10 năm và có kinh nghiệm làm luật sư bào chữa. Nhiệm kỳ của luật sư công cấp quốc gia là 5 năm và có thể gia hạn thêm 5 năm. Công việc của họ bao gồm điều hành công việc hoạt động của Văn phòng quốc gia, đề ra các chính sách, đào tạo nhân viên, giám sát hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của các luật sư khi họ làm việc nhân danh Văn phòng cũng như những nhiệm vụ của Văn phòng cấp quận. Đối với luật sư công cấp quận, tiêu chuẩn là thành viên của Đoàn luật sư, có thời gian công tác pháp luật ít nhất là 6 năm và có kinh nghiệm làm luật sư bào chữa. Luật sư công cấp quận chịu trách nhiệm tham gia tố tụng, bào chữa và thuê luật sư tư; chỉ định những luật sư tư, bố trí và điều phối công việc của các luật sư. Luật sư công là công chức nhà nước, được Nhà nước trả lương song vẫn phải tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư.

Về luật sư tư thuê ngoài, họ phải là luật sư (có bằng luật và giấy chứng nhận đã qua kỳ thi luật sư sau khi hoàn thành khóa thực tập với một luật sư hành nghề). Sau khi được phỏng vấn và đào tạo, họ sẽ được ghi danh vào danh sách thực hiện trợ giúp pháp lý. Số lượng luật sư tư tham gia TGPL lớn hơn nhiều so với luật sư công. Mỗi năm thông thường có khoảng 2.000 người (900 luật sư tư ký hợp đồng thực hiện TGPL với Văn phòng Luật sư công và 1.100 luật sư tư ký với Cục Trợ giúp pháp lý). Hoạt động TGPL của các luật sư tư được giám sát và đánh giá bởi các luật sư công một cách thường xuyên, để đảm bảo chất lượng TGPL. Các luật sư tư được trả thù lao theo các nội dung hoạt động thực hiện. Mức thù lao này là cố định cho từng loại hoạt động, những trường hợp đặc biệt có thể được trả mức cao hơn nhưng tối đa không vượt quá 50% mức tiêu chuẩn. Ngoài ra, các luật sư thực hiện TGPL có thể được trả thêm một số chi phí khác như photo tài liệu, công tác phí.

 Luật không yêu cầu những người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia vào những khóa đào tạo kỹ năng liên tục, tuy nhiên, Cục Trợ giúp pháp lý và Văn phòng luật sư công đều yêu cầu tất cả luât sư được ký hợp đồng tham gia vào các hội nghị chuyên đề và hội thảo mà Văn phòng luật sư công và Cục Trợ giúp pháp lý tổ chức.

  2.3. Người được TGPL

Luật Luật sư công năm 1995 và Luật Trợ giúp pháp lý 1972 quy định chi tiết về những đối tượng được trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực hình sự và dân sự như sau.

  a) Người dân có thể được nhận TGPL về hình sự khi đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:

  • Có khả năng bị phạt tù;
  • Trẻ vị thành niên, người khuyết tật, người có vấn đề về tâm thần;
  • Người có khó khăn về điều kiện tài chính (người nhận được TGPL về hình sự không có trách nhiệm phải chứng minh điều kiện tài chính của mình).

  b) Về lĩnh vực dân sự, hoạt động TGPL được cung cấp cho những người có nhu cầu nhưng không đủ khả năng tài chính để chi trả cho các dịch vụ pháp lý phải trả tiền và những đối tượng phù hợp (nguyên đơn, bị đơn) đã được xác định trong luật, kể cả trong các vụ kiện chống lại Nhà nước.

  Các tiêu chí sẽ được cân nhắc khi xác định một người có được nhận TGPL dân sự hay không bao gồm:

  (i) Nơi cư trú;

  (ii) Nội dung vụ việc;

  (iii) Khả năng tài chính (kiểm tra về thu nhập và tài sản);

  (iv) Có cơ sở pháp lý (khả năng thắng kiện).

Ba yếu tố sau được coi là những yếu tố quan trọng cần được xem xét cẩn trọng. Nôi dung vụ việc đủ tiêu chuẩn bao gồm những vụ việc liên quan đến trật tự xã hội, nợ, phá sản, nhà ở, hợp đồng, lao động, cầm cố, thế chấp, cung cấp điện nước, các vấn đề về gia đình như hòa giải ly hôn, quyền thăm nom, nuôi dưỡng, chia tài sản, bạo lực gia đình, thừa kế... Về khả năng tài chính, để có thể được nhận TGPL, một người cần có tài sản có giá trị thấp hơn 3 lần mức lương trung bình, tổng thu nhập của hộ gia đình thấp hơn 67% mức thu nhập bình quân của một gia đình ở Israel. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp ngoại lệ không phải kiểm tra về tài chính. Đó là các vụ việc liên quan đến lợi ích công, bảo hiểm quốc gia, những nạn nhân của nạn diệt chủng Holocaust, bệnh nhân tâm thần trong thời kỳ nằm viện, cha mẹ ruột làm thủ tục nhận nuôi và những nạn nhân bị mua bán, tố cáo nội bộ...

Người có nhu cầu được trợ giúp pháp lý cần trả phí. Cụ thể, sau khi nộp yêu cầu được nhận trợ giúp pháp lý, người xin trợ giúp pháp lý sẽ được sắp xếp để được gặp luật sư và kiểm tra xem có đủ tiêu chuẩn để được nhận trợ giúp pháp lý hay không. Trong buổi gặp gỡ đó, người yêu cầu nhận trợ giúp pháp lý cần trả 10 USD. Nếu người đó đủ tiêu chuẩn được nhận trợ giúp pháp lý thì người đó cần 20 USD.

2.4. Kinh phí

Kinh phí dành cho trợ giúp pháp lý lấy từ nguồn ngân sách nhà nước. Hàng năm, hoạt động trợ giúp pháp lý nhận được khoảng 102 triệu đô la, chiếm khoảng 0.1% ngân sách quốc gia. Trong số đó, khoảng 53-60 triệu đô dành cho trợ giúp pháp lý hình sự, và khoảng 40 triệu đô dành cho trợ giúp pháp lý dân sự.

3. Nhật Bản

3.1. Hệ thống TGPL

Cơ quan TGPL Nhật Bản là tổ chức được thành lập theo Luật (Luật TGPL năm 2004), do Chính phủ cấp kinh phí hoạt động (thông qua Bộ Tư pháp), mọi tổ chức và hoạt động của Cơ quan phải minh bạch, công khai.

Cơ quan TGPL Nhật Bản không phải là cơ quan trực thuộc Bộ Tư pháp nhưng Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm đối với hoạt động của Cơ quan này thông qua việc phê duyệt Kế hoạch hoạt động bốn năm một lần. Đây là một tổ chức được thành lập theo luật (statutory body). Bộ Tư pháp thành lập Ban đánh giá thuộc Bộ Tư pháp để giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động của Cơ quan. Ban đánh giá gồm hai thành viên trở lên là thẩm phán do Tòa án tối cao giới thiệu. Hàng năm, Cơ quan TGPL Nhật Bản báo cáo hoạt động cho Bộ Tư pháp.

Ban điều hành bao gồm Chủ tịch, các Giám đốc điều hành, Ban thanh tra, Ban Cố vấn, Ban thẩm định, Tổng thư ký và Phó Tổng thư ký, Phòng kiểm toán. Chủ tịch (president) là người đứng đầu, chủ trì, điều hành và chịu trách nhiệm về hoạt động của Cơ quan. Chủ tịch do Bộ trưởng Bộ Tư pháp lựa chọn từ những người có hiểu biết sâu về các vấn đề liên quan đến hoạt động TGPL và có khả năng quản lý công việc hiệu quả (trừ những người là thẩm phán, công tố viên hoặc người đã từng là thẩm phán, công tố viên trong vòng hai năm trước đó). Việc bổ nhiệm Chủ tịch có sự nhất trí của Tòa án tối cao. Có 4 Giám đốc điều hành giúp việc cho Chủ tịch, các Giám đốc được lựa chọn từ các lĩnh vực chuyên môn khác nhau. Giám đốc điều hành sẽ thay mặt Chủ tịch giải quyết công việc khi Chủ tịch không thể hoàn thành nhiệm vụ.

Năm 2015, tổng số cán bộ của Cơ quan TGPL Nhật Bản là 1.600 người, bao gồm 240 luật sư nhân viên được trả lương hàng tháng. Cơ quan TGPL Nhật Bản tự quyết định số lượng nhân viên của mình dựa trên yêu cầu công việc.

Cơ cấu tổ chức của Cơ quan TGPL Nhật Bản gồm 04 Ban, mỗi Ban có các phòng chức năng, cụ thể như sau:

- Ban Hành chính gồm 9 phòng (Phòng Hành chính, Phòng nhân sự, Phòng Tài chính, Phòng kế toán, Phòng quản lý hệ thống, Phòng phát triển dịch vụ, Phòng quản lý tranh tụng, Phòng truyền thông, Phòng điều tra và nghiên cứu).

- Ban Dịch vụ 1 gồm 3 phòng (Phòng thông tin, Phòng TGPL dân sự, Phòng hỗ trợ nạn nhân tội phạm).

- Ban Dịch vụ 2 gồm 4 phòng (Phòng luật sư chỉ định, Phòng hỗ trợ nạn nhân tội phạm, Phòng dịch vụ ủy thác, Phòng tính thù lao cho luật sư chỉ định).

- Ban Kế hoạch chung về luật sư nhân viên gồm 3 phòng (Phòng kế hoạch về luật sư nhân viên, Phòng nghiên cứu về kỹ năng của luật sư nhân viên, Phòng hỗ trợ luật sư nhân viên).

Tổ chức thực hiện TGPL

Các tổ chức trực tiếp thực hiện TGPL bao gồm:

- Trung tâm TGPL được thành lập tại 50 địa phương có trụ sở của tòa án quận;

- Chi nhánh của Trung tâm TGPL được thành lập tại 11 thành phố có dân số đông hoặc có nhiều vụ việc phải tham gia tố tụng mà Trung tâm TGPL tại quận không thể đáp ứng hết nhu cầu;

- Tiểu chi nhánh;

- Văn phòng luật (37 Văn phòng) tại các khu vực nông thôn nơi không có hoặc có rất ít luật sư. Văn phòng luật trực thuộc Trung tâm TGPL.

3.2. Người thực hiện TGPL

Đội ngũ người thực hiện TGPL của Cơ quan TGPL Nhật Bản là luật sư nhân viên, luật sư tư và những người không phải là luật sư. Các nhân viên không phải là luật sư không tham gia tố tụng, chỉ thực hiện những vụ việc tư vấn đơn giản, nhập dữ liệu vụ việc, thực hiện các công việc hành chính khác và mức lương thấp hơn.

Đến năm 2015 Cơ quan TGPL Nhật Bản ký hợp đồng với khoảng 22.000 luật sư tư. Các luật sư tư được nhận thù lao khi vụ việc kết thúc.

3.3. Đối tượng TGPL

Trong lĩnh vực dân sự: Về nguyên tắc, TGPL dân sự được cung cấp cho những người hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có khả năng thuê luật sư. Công dân Nhật Bản và người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Nhật có quyền được nhận TGPL trong lĩnh vực dân sự.

3.4. Lĩnh vực TGPL

Các Trung tâm TGPL, Chi nhánh, Tiểu chi nhánh và Văn phòng luật thực hiện TGPL trong lĩnh vực dân sự (bao gồm hành chính, hôn nhân gia đình) và lĩnh vực hình sự. Vụ việc dân sự chỉ được thụ lý khi có chứng cứ chứng minh có thể thắng kiện. Trong trường hợp thắng kiện và người được TGPL trở thành không phải người nghèo thì phải trả lại phí dịch vụ luật sư cho vụ việc đó.

3.5. Quản lý và vận hành hệ thống

Tuyển dụng nhân viên và phân bổ kinh phí

Cơ quan TGPL Nhật Bản tại Tokyo là cơ quan quản lý về TGPL, thành lập các cơ quan trực tiếp thực hiện TGPL (Trung tâm TGPL, Chi nhánh, Tiểu chi nhánh và Văn phòng luật), tuyển dụng nhân viên và phân bổ kinh phí cho toàn hệ thống. Việc thành lập các Trung tâm TGPL, Chi nhánh, Tiểu chi nhánh và Văn phòng luật căn cứ vào thỏa thuận giữa Cơ quan TGPL Nhật Bản với toà án địa phương và với Đoàn luật sư tại địa phương trên cơ sở xem xét các điều kiện cụ thể của địa phương, hiệu quả hoạt động và các điều kiện khác.

Quản lý vụ việc TGPL

Việc theo dõi công tác thụ lý cũng như giải quyết vụ việc TGPL được thực hiện thông qua phần mềm kết nối giữa Cơ quan TGPL Nhật Bản và các Trung tâm TGPL, Chi nhánh, Tiểu chi nhánh, Văn phòng luật. Qua phần mềm này Cơ quan TGPL Nhật Bản nắm bắt được tất cả thông tin về vụ việc như ngày, giờ tiếp nhận vụ việc, người thực hiện, loại vụ việc, kết quả giải quyết, mức phí mà người được TGPL phải hoàn trả, cách thức hoàn trả…

Kinh phí hoạt động

Kinh phí hoạt động hàng năm do Chính phủ cấp, đóng góp của người được TGPL và tiền thu được từ các hoạt động khác của Cơ quan TGPL Nhật Bản. Năm 2012, kinh phí hoạt động của Cơ quan này là 48 tỷ yên.

Tiêu chí lựa chọn luật sư tư ký hợp đồng thực hiện vụ việc pháp lý

Nếu có nguyện vọng thực hiện TGPL các luật sư tư gửi đơn đề nghị đến các Trung tâm TGPL, Chi nhánh, Tiểu chi nhánh. Giám đốc các Trung tâm TGPL, Chi nhánh, Tiểu chi nhánh sẽ xem xét nếu thấy luật sư không thuộc các trường hợp đang bị đình chỉ hành nghề theo Điều lệ Liên đoàn Luật sư, chưa từng ký kết hợp đồng TGPL và bị hủy hợp đồng, đồng thời đáp ứng các yêu cầu TGPL thì sẽ ký kết hợp đồng.

Đánh giá chất lượng vụ việc TGPL do luật sư ký hợp đồng thực hiện

Khi đã được giao vụ việc TGPL thì luật sư tư sẽ chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện vụ việc, Cơ quan TGPL Nhật Bản không can thiệp vào cách thức luật sư giải quyết vụ việc. Trong trường hợp có dấu hiệu luật sư trong quá trình giải quyết vụ việc có vi phạm những điều khoản do Cơ quan TGPL Nhật Bản quy định thì Trung tâm TGPL, Chi nhánh, Tiểu chi nhánh sẽ điều tra và hủy hợp đồng nếu xác định có vi phạm.

Trong trường hợp đối tượng TGPL có khiếu nại về chất lượng vụ việc thì Cơ quan TGPL Nhật Bản sẽ hướng dẫn người dân đến Đoàn luật sư nơi luật sư đó là thành viên để Đoàn luật sư giải quyết khiếu nại.

Nếu kết quả giải quyết của Đoàn Luật sư thấy rằng luật sư có vi phạm hợp đồng thì Trung tâm TGPL, Chi nhánh, Tiểu chi nhánh đã ký kết hợp đồng sẽ hủy bỏ hợp đồng với luật sư đó.

Trong trường hợp đối tượng TGPL cho rằng luật sư thực hiện vụ việc đã gây thiệt hại cho quyền lợi của mình thì đối tượng có thể khởi kiện lên tòa án để tòa án giải quyết.

Chi trả thù lao cho luật sư tư

Cơ quan TGPL Nhật Bản có biểu thù lao cho từng loại vụ việc. Sau khi vụ việc kết thúc, luật sư sẽ gửi báo cáo kết quả vụ việc cho Trung tâm TGPL. Mức thù lao tư vấn pháp luật ngang bằng với các vụ việc do luật sư tư nhận khách hàng trên thị trường. Thù lao cho vụ việc tham gia tố tụng và trợ giúp lập hồ sơ thì thấp hơn so với vụ việc trên thị trường.

4. Hà Lan

4.1. Hệ thống TGPL

Hiện nay, hệ thống TGPL Hà Lan gồm:

 Hội đồng TGPL Hà Lan (Legal Aid Board - Council)

Hội đồng TGPL Hà Lan là cơ quan độc lập hoạt động trên cơ sở kinh phí do Bộ An ninh và Tư pháp Hà Lan cấp. Hội đồng TGPL Hà Lan chịu trách nhiệm quản lý công tác TGPL và báo cáo Bộ trưởng Bộ An ninh và Tư pháp. 02 năm một lần, Hội đồng TGPL tiến hành khảo sát khách hàng về việc cung cấp dịch vụ pháp lý của các Tổ chức cung cấp dịch vụ TGPL và phối hợp với Đoàn luật sư Hà Lan tiến hành khảo sát đánh giá hoạt động của các luật sư ký hợp đồng thực hiện TGPL.

Bộ Tư pháp quản lý về hoạt động của Hội đồng TGPL thông qua việc cấp kinh phí; quy định chính sách TGPL, hàng năm có các buổi làm việc để nắm bắt tình hình, nghe báo cáo; thông qua kế hoạch hoạt động hàng năm trên cơ sở hiệu quả hoạt động của Hội đồng TGPL. Kinh phí cho hoạt động TGPL ở Hà Lan được Bộ Tư pháp cấp cho Hội đồng TGPL Hà Lan. Hội đồng TGPL sẽ phân bổ kinh phí cho các Tổ chức cung cấp dịch vụ TGPL và chi trả cho các luật sư thực hiện các vụ việc tại Tòa án.

 Đứng đầu Hội đồng là Giám đốc điều hành do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm trong nhiệm kỳ 04 năm và không quá 02 nhiệm kỳ. Giúp việc cho Giám đốc điều hành có Ủy Ban kiểm soát gồm 05 thành viên là các Trưởng phòng của Hội đồng. Ban kiểm soát có nhiệm vụ quản lý và phê duyệt số nhân viên làm việc tại Hội đồng và chọn người đứng đầu các Tổ chức cung cấp dịch vụ TGPL.

 Tổ chức trực tiếp thực hiện TGPL của Nhà nước

Tổ chức cung cấp dịch vụ TGPL ở Hà Lan được thành lập bởi Hội đồng TGPL Hà Lan, người đứng đầu Tổ chức cung cấp dịch vụ TGPL do Ban Kiểm soát của Hội đồng TGPL lựa chọn. Người đứng đầu các Tổ chức cung cấp dịch vụ TGPL chịu trách nhiệm về hoạt động TGPL của tổ chức trước Hội đồng TGPL và toàn quyền quyết định số lượng nhân sự của tổ chức tùy thuộc vào lượng khách hàng đến với tổ chức và dân cư nơi tổ chức có trụ sở. Hiện nay, Hà Lan có 30 Tổ chức cung cấp dịch vụ TGPL với 319 nhân viên, trong đó có 250 nhân viên pháp lý trực tiếp thực hiện tư vấn pháp luật và được Hội đồng TGPL cấp 23 triệu Euro/năm để hoạt động. Hội đồng TGPL quy định về trụ sở của các Tổ chức cung cấp dịch vụ TGPL được thiết kế, trang trí, mầu sắc, giờ làm việc, thời gian đóng cửa, mở cửa của tất cả các Tổ chức cung cấp dịch vụ TGPL là giống nhau để người dân dễ nhận biết.

Chất lượng dịch vụ do các tổ chức cung cấp dịch vụ TGPL thực hiện được Hội đồng TGPL đánh giá thông qua khảo sát khách hàng và luôn đạt điểm số cao (lần gần nhất khách hàng đánh giá đạt 8,2 điểm) và đến nay chưa nhận được phàn nàn của khách hàng.

4.2. Người thực hiện TGPL

Người thực hiện TGPL gồm nhân viên pháp lý của Nhà nước và Luật sư ký hợp đồng thực hiện TGPL với Hội đồng TGPL Hà Lan.

 Luật sư ký hợp đồng thực hiện TGPL với Hội đồng TGPL

Ngoài Tổ chức cung cấp dịch vụ TGPL, Hội đồng TGPL còn thực hiện ký hợp đồng với các Luật sư để thực hiện TGPL đối với  các vụ việc tư vấn tiền tố tụng và các vụ việc tham gia tố tụng.

Để tham gia TGPL, Hội đồng TGPL đưa ra những điều kiện đối với luật sư tư cao hơn đối với các nhân viên pháp lý của Tổ chức cung cấp dịch vụ TGPL như: Luật sư phải độc lập với khách hàng và các bên có liên quan, phải công bằng, có đạo đức nghề nghiệp cao thông qua việc nhận được sự tin tưởng của khách hàng, tôn trọng bí mật riêng tư của khách hàng và có một số lượng vụ việc tối thiểu/năm (khoảng 10 vụ việc/năm). Bên cạnh các yêu cầu của Hội đồng TGPL thì Đoàn luật sư Hà Lan cũng đưa ra các yêu cầu riêng đối với các luật sư tư khi thực hiện ký hợp đồng TGPL: Luật sư phải hiểu biết về các quy định của TGPL và giải thích cho khách hàng quy định về TGPL; Luật sư phải cập nhật kiến thức chuyên môn bắt buộc hay luật sư phải là thành viên của hiệp hội chuyên môn nhất định,…

Thời hạn hợp đồng thường là 05 năm, tuy nhiên mỗi năm Hội đồng TGPL sẽ đánh giá lại các điều kiện của luật sư và đưa ra các cảnh báo đối với các luật sư, đặc biệt là cảnh báo về số lượng vụ việc và yêu cầu về trình độ chuyên môn. Các luật sư tư được quyền giám sát lẫn nhau trong hoạt động TGPL. Hiện Hà Lan có 8.000 luật sư/tổng số 16.000 luật sư ký hợp đồng thực hiện TGPL và được quản lý tại Hội đồng TGPL.

Về thù lao trả cho Luật sư ký hợp đồng thực hiện TGPL: Sau khi kết thúc vụ việc luật sư tư gửi hồ sơ tài liệu liên quan đến vụ việc kèm theo chứng từ chứng minh quá trình làm việc về Hội đồng TGPL để đề nghị thanh toán thù lao thực hiện TGPL đối với vụ việc đó. Thù lao chi trả cho luật sư tư thực hiện TGPL dựa trên các mức khoán cố định cho từng vụ việc theo quy định của pháp luật, từ 250Euro - đối với vụ việc tư vấn tiền tố tụng thông thường) đến 1.500 Euro - đối với vụ việc trong lĩnh vực lao động). Đối với những vụ việc hình sự nghiêm trọng, cần nhiều thời gian hơn, Hội đồng TGPL căn cứ vào một số công việc mà luật sư phải thực hiện như: gặp gỡ khách hàng, nghiên cứu hồ sơ và làm các công việc khác tại tòa và luật sư phải chứng minh lý do, mục đích cần phải làm thêm giờ,… để quyết định chi trả thù lao ở mức cao hơn.

4.3. Về lĩnh vực, hình thức TGPL

Tại Hà Lan, hoạt động TGPL chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như: Hôn nhân và gia đình, Lao động, Dân sự, Hình sự, hành chính, nhập cư và tị nạn.

4.4. Hình thức thực hiện TGPL

Ở Hà Lan, TGPL được cung cấp dưới các hình thức: Tư vấn pháp luật, Đại diện tại Tòa án, Hòa giải.

4.5. Người được TGPL

Ở Hà Lan, quyền được TGPL được dành cho cả công dân Hà Lan và công dân nước ngoài đang sinh sống, học tập, làm việc tại Hà Lan. Theo thống kê, hiện có khoảng 39% dân số Hà Lan có quyền được TGPL (dân số Hà Lan theo thống kê năm 2013 là khoảng 16,8 triệu người). Tuy nhiên, ở Hà Lan, không phải mọi người đều được TGPL miễn phí mà được chia như sau:

- Đối với tư vấn đơn giản tại các tổ chức cung cấp dịch vụ TGPL: mọi người dân đều được hưởng tư vấn miễn phí.

- Đối với các vụ việc dân sự phức tạp, cần phải ra Tòa thì điều kiện chính để xét một người có thuộc diện được TGPL là điều kiện khó khăn về tài chính dựa trên mức thu nhập và tài sản khác mà người đó đang có. Tuy nhiên, đối với những người này, họ không được miễn phí hoàn toàn mà vẫn phải đóng góp một phần chi phí tùy thuộc vào tính chất vụ việc và mức độ thu nhập. Mức đóng góp của người được TGPL trong khoảng từ  53Euro/vụ đến 849Euro/vụ tùy theo vụ việc đó là hòa giải hay tham gia tố tụng tại Tòa.

- Người không có nhà cửa, thu nhập, không có khả năng chi trả, người không được hưởng phúc lợi xã hội (rất hiếm); người bị tạm giam, tạm giữ sẽ được miễn phí mà không phải đóng góp kinh phí cho nhà nước.

- Những người có điều khoản TGPL trong Hợp đồng bảo hiểm sẽ không được chấp nhận cung cấp dịch vụ TGPL.

4.6. Kinh phí

Hằng năm, căn cứ vào kết quả hoạt động và kế hoạch TGPL do Hội đồng TGPL đệ trình, Bộ Tư pháp trình Nghị viện thông qua kế hoạch hoạt động và cấp kinh phí cho Hội đồng TGPL.

Kinh phí cấp cho hoạt động TGPL ở Hà Lan là kinh phí mở, không giới hạn mức trần. Kinh phí sẽ tăng khi các vụ việc tăng, đặc biệt là các vụ việc tham gia tố tụng.

4.7. Hệ thống công nghệ thông tin

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động TGPL ở Hà Lan được thực hiện rất đồng bộ và bài bản, từ việc yêu cầu TGPL, chấp nhận đơn yêu cầu TGPL, tính toán mức phí mà người được TGPL đóng góp cho đến thực hiện TGPL đều được cập nhật vào cơ sở dữ liệu chung.

Tại các tổ chức cung cấp dịch TGPL, hệ thống lưu giữ các thông tin liên quan đến cá nhân người được TGPL, các yêu cầu của người được TGPL và nội dung tư vấn của các Tư vấn viên đối với những vướng mắc pháp luật mà người dân gặp phải và được giải quyết ra sao. Khi thực hiện tư vấn qua điện thoại,… các nhân viên vừa thực hiện tư vấn cho khách hàng và vừa cập nhật trực tiếp vào hệ thống.

Đối với vụ việc tham gia tố tụng, luật sư là người hướng dẫn khách hàng và trực tiếp điền thông tin vào đơn trên Hệ thống phần mềm quản lý, kèm theo bản chụp hoặc Scan các giấy tờ chứng minh mức thu nhập của khách hàng. Đơn yêu cầu TGPL sau đó được gửi về Hội đồng TGPL và được nhân viên của Hội đồng kiểm tra các điều kiện được hưởng TGPL trên cơ sở đối chiếu với hệ thống quản lý thuế, tài chính khác (chủ yếu là kiểm tra mức thu nhập) để quyết định chấp nhận TGPL hay không và thông báo mức đóng góp của người được TGPL qua email. Email dược gửi đến cho Luật sư và người được TGPL.

4.8. Quản lý, kiểm soát chất lượng

Việc quản lý, kiểm soát chất lượng TGPL ở Hà Lan được thực hiện bởi Hội đồng TGPL.

Việc quản lý chất lượng đối với các hoạt động của luật sư thực hiện ký hợp đồng TGPL chủ yếu dựa vào niềm tin về uy tín và đạo đức nghề nghiệp của luật sư. Hội đồng TGPL và Đoàn luật sư phối hợp để quản lý chất lượng đối với những vụ việc này. Tuy không có tiêu chí cụ thể để đánh giá chất lượng đối với các vụ việc tham gia tố tụng do Luật sư cung cấp nhưng thông qua các tiêu chuẩn khi ký hợp đồng như: Phải là hội viên của tổ chức chuyên môn, hệ thống tính điểm của Luật sư, kinh nghiệm nghề nghiệp hay quy định số vụ việc tối thiểu mà luật sư phải thực hiện,… đã giúp cho Hội đồng TGPL lựa chọn được những luật sư giỏi, có kinh nghiệm tham gia hoạt động TGPL. Bên cạnh đó, Hội đồng TGPL sẽ phối hợp với Đoàn Luật sư để đánh giá hoạt động của Luật sư qua việc khảo sát khách hàng để đánh giá luật sư có đáp ứng được yêu cầu của khách hàng mong muốn không? Năm năm một lần, Chủ tịch Đoàn Luật sư kiểm tra việc thực hiện xem có đáp ứng không thông qua kiểm tra ngẫu nhiên các hồ sơ vụ việc (nếu kiểm tra 5 hồ sơ thì phải có 4/5 Hồ sơ đáp ứng yêu cầu khách hàng). Việc không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng và khách hàng phàn nàn hoặc nếu có vi phạm khi Chủ tịch Đoàn luật sư kiểm tra thì Luật sư đó sẽ bị kỉ luật và không được thực hiện TGPL. Ngoài ra, Hội đồng TGPL còn quy định các Luật sư có quyền giám sát chéo nhau và vài năm một lần, Luật sư phải đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng.

5. Indonesia

TGPL ở Indonesia theo mô hình judicare.

5.1. Cơ quan quản lý TGPL

Cục xây dựng pháp luật quốc gia thuộc Bộ Tư pháp và nhân quyền là cơ quan có nhiệm vụ xây dựng chính sách và các hướng dẫn TGPL, các tiêu chuẩn TGPL và cơ chế TGPL; báo cáo hoạt động TGPL gửi Quốc hội, lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ TGPL, theo dõi, giám sát hoạt động của các nhà cung cấp này.

5.2. Các tổ chức thực hiện TGPL

Hiện có 310 tổ chức xã hội được lựa chọn từ 593 tổ chức phi Chính phủ để trực tiếp thực hiện TGPL. Các tổ chức này được xếp hạng A/B/C tùy thuộc số vụ việc mỗi tổ chức thực hiện, số luật sư, số cán bộ pháp lý bán chuyên.

5.3. Người được TGPL

Người hoặc nhóm người nghèo không thể được đáp ứng các quyền cơ bản (quyền về lương thực, quần áo, sức khỏe, giáo dục, việc làm và kinh doanh, và/hoặc nhà ở).

5.4. Người thực hiện TGPL

- Luật sư;

- Cán bộ pháp lý bán chuyên;

- Sinh viên luật.

5.5. Kinh phí hoạt động

- Ngân sách nhà nước cấp (Chính phủ và chính quyền địa phương);

- Các nguồn đóng góp hợp pháp khác.

6. Singapore

Singapore áp dụng mô hình TGPL hỗn hợp và TGPL được thực hiện trong hai lĩnh vực hình sự và dân sự với cách thức tổ chức khác nhau. Cụ thể:

6.1. TGPL dân sự

a. Cơ quan quản lý TGPL

Cục TGPL được thành lập vào năm 1958, trực thuộc Bộ Lao động và phúc lợi, chịu trách nhiệm TGPL trong lĩnh vực dân sự. Năm 1964 trực thuộc Bộ các vấn đề xã hội, từ năm 1984 chuyển về Bộ Pháp luật.

Cục TGPL có trụ sở duy nhất mà không có chi nhánh nào tại Singapore. Tính đến năm 2015 Cục có 55 nhân viên, Cục TGPL giải quyết khoảng 8.000 vụ việc/năm.

b. Người được TGPL

- Công dân Singapore sinh sống ở Singapore;

- Công dân nước ký hiệp định tương trợ tư pháp với Singapore mà liên quan đến thực hiện Hiệp định Hague về các vấn đề dân sự bắt cóc trẻ em quốc tế.

Việc xác định điều kiện của một công dân Singapore hoặc người nhập cư lâu dài được TGPL và số tiền người đó đóng góp vào quỹ dựa trên bản kiểm tra được cập nhập vài năm một lần. Bản kiểm tra yêu cầu người được TGPL phải có thu nhập 12 tháng trước khi nộp đơn sau khi được giảm trừ gia cảnh không được vượt quá 6.900 đô la Mỹ. Từ tháng 3 năm 2007, hình thức kiểm tra này được áp dụng.

c. Người thực hiện TGPL

- Luật sư tình nguyện;

- Luật sư do Nhà nước trả thù lao.

Cục TGPL nhận được sự hỗ trợ từ 500 luật sư tình nguyện, những luật sư này thực hiện khoảng 35% tổng vụ việc, những luật sư TGPL do Nhà nước trả lương thực hiện 65% vụ việc.

d. Hình thức TGPL

- Tư vấn pháp luật: Tư vấn miệng do luật sư của Cục TGPL thực hiện về các quy định của pháp luật Singapore và hướng dẫn các thủ tục đối với vụ việc của đối tượng TGPL;

- TGPL: luật sư TGPL tham gia tố tụng dân sự ở Tòa phúc thẩm, tòa tối cao, tòa án quận, tòa hành chính và tòa án Syariah;

- Giúp đỡ pháp lý: soạn thảo các loại giấy tờ;

- Tham vấn: được thực hiện cho người chịu bất hạnh trong hôn nhân và các vấn đề cá nhân khác.

đ. Kinh phí hoạt động của Cục TGPL

- Phần lớn là do Chính phủ cấp;

- Đóng góp của đối tượng được TGPL.

6.2. TGPL hình sự

a. Cơ quan quản lý TGPL hình sự

Liên đoàn luật sư Singapore quản lý TGPL trong lĩnh vực hình sự thông qua việc thành lập Chương trình TGPL hình sự thực hiện đại diện, bào chữa cho bị cáo nghèo. Chương trình này do Văn phòng pro bono điều hành. Ở Singapore các luật sư cam kết mỗi năm thực hiện TGPL miễn phí 25 giờ. Liên đoàn luật sư có 3.500 luật sư, như vậy mỗi năm luật sư thực hiện hơn 80.000 giờ miễn phí cho người dân.

b. Người được TGPL: chương trình TGPL hình sự chỉ thực hiện TGPL cho những người nghèo phạm tội không có hình phạt tử hình (Tất cả bị cáo phạm tội bị kết án tử hình được Tòa án tối cao cử luật sư miễn phí mà không cần kiểm tra điều kiện về tài chính).

c. Kinh phí: do Bộ Pháp luật, Tòa án, Viện Hàn lâm Luật Singapore, tổng công ty, luật sư tư, các nhà tài trợ khác cấp.

V. MỘT SỐ NHẬN XÉT

So với nhiều nước phát triển trên thế giới, TGPL ở Việt Nam ra đời muộn hơn và điều kiện kinh tế của Việt Nam khó khăn hơn. Tuy nhiên, hơn 20 năm hình thành, hệ thống TGPL ở Việt Nam đã có những bước phát triển đáng mừng, dần tiến đến có nhiều điểm ưu việt hơn và tương đồng với các nước trên thế giới, cụ thể:

1. Về mô hình: Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về TGPL, đặc biệt là ưu, nhược điểm của từng mô hình, ngay từ ngày đầu thành lập Việt Nam đã lựa chọn mô hình hỗn hợp. Mô hình này thể hiện rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc chủ động nguồn lực thực hiện TGPL, đồng thời huy động sự tham gia tự nguyện của các tổ chức xã hội. Áp dụng mô hình này Nhà nước có sự chủ động trong việc đáp ứng nhu cầu TGPL của người dân, tránh bị động phụ thuộc vào nguồn lực ngoài Nhà nước. Hơn nữa, sự tồn tại song song hai chủ thể thực hiện TGPL sẽ tạo ra sự canh tranh trong việc nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu TGPL của người dân cũng như chất lượng vụ việc TGPL.

2. Về người được TGPL: trong tương quan với người thuộc diện TGPL ở các nước có thể thấy diện người được TGPL theo pháp luật Việt Nam khá rộng. Đặc biệt, theo Luật TGPL năm 2017 mới được Quốc hội ban hành tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV thì diện người được TGPL đã được mở rộng (từ 6 nhóm người lên 14 nhóm người). Ngoài người nghèo theo thông lệ chung của các nước trên thế giới thì thực hiện các chính sách dân tộc, chính sách đền ơn đáp nghĩa Điều 7 Luật TGPL năm 2017 đã mở rộng ra một số đối tượng khác[1].

3. Về người thực hiện TGPL, so sánh với quy định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam cho thấy người thực hiện TGPL ở Việt Nam cũng có điểm tương đồng với hầu hết các nước, bao gồm đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý hưởng lương từ ngân sách nhà nước (về bản chất là luật sư công); đội ngũ cộng tác viên TGPL; luật sư, tư vấn viên pháp luật của các tổ chức đăng ký tham gia TGPL. Việc Luật TGPL năm 2017 bổ sung tiêu chuẩn của Trợ giúp viên pháp lý ngang bằng với luật sư là một điểm tiến bộ, giúp quy định về người thực hiện TGPL ở Việt Nam gần hơn nữa với thế giới.

4. Về kinh phí cho hoạt động TGPL: trong những năm trước đây, nguồn kinh phí cấp cho TGPL ở Việt Nam chỉ chủ yếu tập trung vào việc bảo đảm về cơ sở vật chất, duy trì tổ chức bộ máy và các hoạt động TGPL khác (truyền thông, TGPL lưu động, sinh hoạt Câu lạc bộ TGPL...) mà chưa chú trọng vào việc thực hiện các vụ việc cụ thể (kinh phí dành cho vụ việc chỉ chiếm khoảng 10-15% tổng ngân sách hàng năm), lại chủ yếu ở hình thức tư vấn pháp luật. Tuy nhiên, triển khai thực hiện Đề án đổi mới công tác TGPL giai đoạn 2015-2020, các Trung tâm TGPL nhà nước đã dần hướng về thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là thực hiện vụ việc TGPL cụ thể, đặc biệt là các vụ việc tham gia tố tụng. Do đó, cơ cấu chi dần có sự thay đổi, tập trung chi nhiều hơn cho thực hiện vụ việc. Sự thay đổi này phù hợp với thực tiễn ở nhiều nước trên thế giới, kinh phí được bố trí chủ yếu cho việc thực hiện vụ việc TGPL./.

- Thanh Trịnh - Văn phòng Cục - 

 

 

 


[1] Người có công với cách mạng; Trẻ em; Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo

 Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về tài chính; Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; Người nhiễm chất độc da cam; Người cao tuổi; Người khuyết tật; Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự;  Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; Nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người; Người nhiễm HIV.

 

Loại bài viết: