Luôn luôn đi cùng dân
Đường dây nóng: 024. 3733.43.09; 0888509566

Nghiên cứu trao đổi

1. Sự hình thành, phát triển của chế định Trợ giúp viên pháp lý Trước khi có Luật Trợ giúp pháp lý, chức danh Trợ giúp viên pháp lý chưa được hình thành. Theo Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý (TGPL) cho người nghèo, đối tượng chính sách và các văn bản hướng dẫn đã xác định đội ngũ người thực hiện TGPL bao gồm: Các chuyên viên TGPL và các cộng tác viên TGPL của tổ chức TGPL nhà nước. Theo quy định, các chuyên viên TGPL thực hiện việc tư vấn, kiến nghị, đại diện miễn phí cho các đối tượng là người nghèo, đối tượng chính sách như thương binh, bệnh binh, bố mẹ, vợ, chồng của liệt sỹ… Riêng vấn đề bào chữa, theo quy định các tổ chức TGPL được trực tiếp đại diện, bào chữa trước Toà án và các cơ quan có thẩm quyền để giúp đỡ đối tượng. Tuy nhiên, trong thực tế chỉ người thực hiện TGPL là luật sư hoặc luật gia mới được thực hiện bào chữa còn chuyên viên TGPL thì không được tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa cho đối tượng TGPL mà mới chỉ thực hiện các hình thức là tư vấn, kiến nghị theo quy định của pháp luật TGPL (ngoại trừ một vài tỉnh gặp khó khăn trong việc phát triển đội ngũ luật sư đã vận dụng linh hoạt cho chuyên viên TGPL tham gia bào chữa).

Mặc dù, Luật Trợ giúp pháp lý ra đời từ năm 2006 và lãnh đạo liên ngành gồm tư pháp, tài chính, công an, quốc phòng, kiểm sát, tòa án đã thống nhất hướng dẫn áp dụng một số quy định về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tại Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT-BTP-BTC-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 4/7/2013, tuy nhiên trong quá trình triển khai các hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng vẫn còn một số vấn đề vướng mắc, do đó bài viết tổng hợp các nội dung nhận được trong hoạt động quản lý để các Hội đồng phối hợp liên ngành địa phương thống nhất triển khai thực hiện.

Nhằm triển khai có hiệu quả Luật TGPL, Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 04/7/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện một số quy định của pháp luật về TGPL trong hoạt động tố tụng (Thông tư liên tịch số 11) phù hợp với tình hình đổi mới công tác TGPL, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn; nâng cao số lượng và chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý được thực hiện bằng hình thức tham gia tố tụng, đặc biệt trong lĩnh vực tố tụng hình sự và các vụ việc tư vấn pháp luật tiền tố tụng.

Trong các vụ án dân sự, việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật nội dung khi giải quyết yêu cầu của đương sự. Để xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, cần phải dựa vào yêu cầu của đương sự và quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội mà đương sự tham gia. Trên thực tế, do quan hệ pháp luật đa dạng, tồn tại đan xen nên việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong các vụ án dân sự không hề dễ và càng phức tạp hơn đối với vụ án tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin nêu vụ án cụ thể để xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp.

Trợ giúp pháp lý lưu động là một phương thức trợ giúp pháp lý không chỉ đưa kiến thức pháp luật đến với người dân mà còn là diễn đàn để người dân tiếp cận và thụ hưởng kịp thời chính sách trợ giúp pháp lý miễn phí khi có nhu cầu, vướng mắc pháp luật phát sinh trong đời sống thường ngày.

* Nội dung vụ việc Khoảng cuối tháng 6/2011, N.P.C bàn bạc với 10 thanh niên khác là Đ.D, V.G, V.T, P.H, B.V.H, VĐ, V.C, P.L, T.Đ, V.Q rủ nhau đi cướp giật để lấy tiền ăn tiêu chung và được tất cả đồng ý. 11 thanh niên này đã thống nhất phương thức cùng nhau sử dung xe máy để cướp giật tài sản. N.P.C phân công hai người đi chung một xe máy, nếu hôm nào đi đông người thì có xe máy phải chở 3 người. Khi đi lòng vòng trên đường, nếu phát hiện người có tài sản như dây chuyền vàng, điện thoại thì sẽ ra hiệu cho mọi người bám theo, khi có điều kiện thuận lợi thì áp sát cướp giật tài sản và bỏ chạy. Nếu có người đuổi theo, các xe còn lại theo sau làm nhiệm vụ cản đường bằng cách giả vờ đuổi theo nhau hoặc đánh võng trên đường. Tài sản cướp giật được thì tập trung đưa cho N.P.C đem bán lấy tiền chi tiêu chung, sử dụng chung, số tiền còn lại thì mua xe máy để sử dụng vào việc cướp giật tài sản và N.P.C cầm chi tiêu chung cho cả bọn.

Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006, có hiệu lực từ ngày 01/01/2007. Lần đầu tiên, Luật quy định việc kiến nghị những vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật là quyền đồng thời là nghĩa vụ của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý (TGPL). Cụ thể hóa các quy định của Luật về vấn đề kiến nghị liên quan đến thi hành pháp luật, Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ đã xác định hoạt động kiến nghị thi hành pháp luật thông qua TGPL bao gồm ba hình thức: kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết lại vụ việc của người được TGPL; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết về việc thi hành pháp luật của cán bộ, công chức khi phát hiện cán bộ, công chức cố tình làm sai, vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của người được TGPL và kiến nghị sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tiễn.

Xác định tội danh có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, là căn cứ để áp dụng hình phạt một cách công bằng, chính xác, góp phần bảo vệ công lý, quyền con người và mang lại hiệu quả trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử nhiều vụ án hình sự cho thấy vẫn còn những khó khăn, vướng mắc trong vấn đề xác định tội danh và khung hình phạt, nhất là đối với những vụ án mà hành vi phạm tội của bị can, bị cáo không thể hiện các yếu tố cấu thành tội phạm một cách đặc trưng, rõ ràng. Trên phương diện nghiên cứu và là người tham gia bào chữa trong nhiều phiên tòa hình sự, tôi xin nêu một vụ án cụ thể để bạn đọc cùng phân tích.

Trẻ em là chủ nhân tương lai của gia đình, đất nước cũng như toàn nhân loại. Do vậy, chăm sóc và bảo vệ trẻ em không chỉ là trách nhiệm của mỗi gia đình, mỗi quốc gia mà đã trở thành mối quan tâm chung của cộng đồng quốc tế. Trong nhiều năm qua, cũng như nhiều quốc gia khác, Nhà nước cũng như toàn xã hội Việt Nam đã ngày càng nỗ lực hơn trong việc thực hiện có hiệu quả những cam kết mạnh mẽ với cộng đồng quốc tế về chăm sóc và bảo vệ trẻ em.

1. Khái quát về chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý sau 06 năm triển khai thực hiện Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng

Trang