Luôn luôn đi cùng dân
Đường dây nóng: 024. 3733.43.09; 0888509566

Trợ giúp pháp lý thân thiện với trẻ em trong hệ thống tư pháp hình sự và tính tương thích của pháp luật Việt Nam trong trợ giúp pháp lý thân thiện với trẻ em

T6, 08/03/2019 - 17:13 -- vananh820

I. Tư pháp hình sự thân thiện với người chưa thành niên

Hiện nay các quốc gia trên thế giới đã xây dựng nhiều văn bản pháp luật bảo vệ các quyền của con người, đặc biệt là đối với người chưa thành niên, trong đó phải kể đến các văn kiện quốc tế dành riêng cho người chưa thành niên như Công ước về quyền trẻ em; Hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (gọi tắt là Hướng dẫn Riyadh); Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật với người chưa thành niên (gọi tắt là Quy tắc Bắc Kinh); Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do. Các văn kiện pháp lý này đã tạo ra những chuẩn mực tối thiểu nhằm bảo đảm các quyền của người chưa thành niên khi vi phạm pháp luật. Các văn bản này đã đưa ra các nguyên tắc về tư pháp thân thiện với trẻ em.

Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em luôn được Đảng, Nhà nước Việt Nam quan tâm. Trong mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ em thì lợi ích của trẻ em được quan tâm hàng đầu, đây là nguyên tắc xuyên suốt trong chính sách, pháp luật của Việt Nam đối với trẻ em. Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta đối với người chưa thành niên phạm tội (trong đó có trẻ em) được thể hiện rất đầy đủ trong Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo đó, nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ các em sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.

1. Vì lợi ích tốt nhất của trẻ em

Một trong nhưng nguyên tắc quan trọng nhất đối với hệ thống tư pháp thân thiện với người chưa thành niên là “Trong mọi hoạt động liên quan tới trẻ em, dù được thực hiện bởi các cơ quan phúc lợi xã hội của nhà nước hay tư nhân, bởi tòa án, các nhà chức trách hành chính hay cơ quan pháp luật, thì lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu”[1].Quy tắc Bắc Kinh cũng nêu rõ nguyên tắc nàyCác thủ tục tố tụng phải nhằm bảo đảm những lợi ích cao nhất của người chưa thành niên và được tiến hành trong một bầu không khí hiểu biết, cho phép người chưa thành niên được tham gia và tự do bày tỏ ý kiến”.

Đối với Việt Nam: Bộ luật hình sự năm 2015 dành chương 12 về những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, trong đó Điều 91 quy định nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như sau:

- Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội;

- Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.

2. Không phân biệt đối xử

Nguyên tắc không phân biệt đối xử trong hệ thống tư pháp người chưa thành niên có ý nghĩa trong việc áp dụng các thủ tục đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Nguyên tắc này đòi hỏi việc áp dụng thủ tục tư pháp đối với trẻ em phải bình đẳng, không có sự phân biệt dựa trên bất cứ yếu tố nào: chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, ngôn ngữ, địa vị xuất thân… Nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 2 Công ước quốc tế về quyền trẻ em[2].

Nguyên tắc này cũng được nghi nhận trong Quy tắc Bắc Kinh “Các Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu dưới đây phải được áp dụng một cách không thiên vị đối với người phạm tội chưa thành niên, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc các quan điểm khác, nguồn gốc xã hội hoặc dân tộc, tài sản, dòng dõi hoặc các mối tương quan khác”.

Đối với Việt Nam: Nguyên tắc này đã được ghi nhận tại Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 “Tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật”. Thực tiễn cho thấy trong tố tụng hình sự nói chung và tố tụng hình sự với trẻ em nói riêng chưa phát hiện sự phân biệt đối xử, do đó, nguyên tắc này đã được ghi nhận và thực hiện tại Việt Nam.

3. Về hệ thống tư pháp riêng cho trẻ em

Điều 40 Công ước quốc tế về quyền trẻ em yêu cầu các quốc gia phải thúc đẩy việc hình thành các đạo luật quy định trình tự thủ tục, các cơ quan và tổ chức riêng cho trẻ em bị coi là, bị tố cáo hay thừa nhận là đã vi phạm pháp luật hình sự. Một số nguyên tắc bảo đảm quyền của người chưa thành niên vi phạm pháp luật cũng được đề cập như nguyên tắc giả định vô tội cho tới khi chứng minh đã phạm tội theo pháp luật, được giúp đỡ về pháp lý hoặc những giúp đỡ thích hợp khác để chuẩn bị và trình bày sự bảo vệ của mình… Bình luận chung số 10 của Công ước cũng khuyến nghị việc thiết lập tòa án người chưa thành niên với tư cách là một thiết chế độc lập hoặc như là một phần của hệ thống tòa án hiện có.

Tại Việt Nam, theo quy định tại Điều 30, 38, 45 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân thì trong cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện có Tòa Gia đình và Người chưa thành niên. Việc tổ chức Tòa Gia đình và Người chưa thành niên ở Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện căn cứ vào yêu cầu công việc và thực tế xét xử của mỗi Tòa án; căn cứ vào biên chế đội ngũ Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký của từng Tòa án và do Chánh án Tòa án nhân dân xem xét, quyết định. Đến nay, Việt Nam đã thành lập Tòa Gia đình và Người chưa thành niên tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Tháp. Việc quy định cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân và việc thành lập Tòa chuyên trách này là đỉnh cao của hệ thống tư pháp Việt Nam nhằm bảo vệ trẻ em. Việc thành lập Tòa chuyên trách về gia đình và người chưa thành niên đã chứng tỏ cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền trẻ em, đặc biệt là trẻ em trong hoạt động tư pháp, thông qua việc xây dựng một hệ thống tư pháp trẻ em toàn diện mà Tòa Gia đình và Người chưa thành niên là trung tâm, với sự tham gia, phối hợp chặt chẽ của các cơ quan, tổ chức có liên quan. Đây cũng là phương thức để thực hiện nguyên tắc Hiến định về việc xét xử kín đối với người chưa thành niên quy định tại khoản 3 Điều 103 của Hiến pháp năm 2013.

Ngày 21/9/2018, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Tòa án gia đình và người chưa thành niên trong đó quy định việc phân công thẩm phán xét xử các vụ án có người bị buộc tội dưới 18 tuổi, việc bố trí phòng xét xử...

Đặc biệt, Công ước đã yêu cầu các quốc gia thúc đẩy việc tăng cường áp dụng các biện pháp xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật hình sự mà không phải áp dụng thủ tục tố tụng (tăng cường áp dụng “xử lý chuyển hướng”) “đề ra các biện pháp để xử lý những trẻ em như thế mà không phải đụng đến những quá trình tố tụng của việc xét xử, miễn là các quyền con người và những điều kiện bảo vệ về pháp lý được tôn trọng đầy đủ trong bất kỳ khi nào thấy thích hợp và cần phải làm”.

4. Cán bộ thực hành tư pháp đối với trẻ em

Công ước quốc tế về quyền trẻ em (Bình luận chung số 10, đoạn 97) khuyến nghị các cán bộ chuyên môn trong hệ thống tư pháp người chưa thành niên cần được đào tạo bài bản và thường xuyên. Quy tắc Bắc Kinh (quy tắc 22.1) khuyến nghị cán bộ làm việc với người chưa thành niên vi phạm pháp luật hình sự cần được đào tạo thường xuyên dưới nhiều hình thức.

Tại Việt Nam, Điều 415 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định người tiến hành tố tụng đối với vụ án có người dưới 18 tuổi phải là người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi, có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi.

Trong thực tiễn, cán bộ thực hành tố tụng đối với trẻ em đã được quan tâm bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và các kỹ năng thông qua chương trình đào tạo, bồi dưỡng của Nhà nước cũng như sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế.

5. Bảo đảm quyền riêng tư

Các văn kiện quốc tế đã đưa ra một số cơ chế bảo vệ trẻ em vi phạm pháp luật khỏi nguy cơ bị xam phạm quyền riêng tư. Quy tắc 8.1 và 8.2 Quy tắc Bắc Kinh quy định không được công khai bất cứ thông tin nào dẫn đến việc nhận diện người chưa thành niên phạm tội.

Tại Việt Nam,nguyên tắc này được thể hiện rất rõ tại khoản 2 Điều 414 Bộ luật Tố tụng hình sự “Bảo đảm giữ bí mật cá nhân của người dưới 18 tuổi”. Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì Tòa án có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai (Điều 25 BLTTHS).

Tại Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi  thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân quy định:Đối với những vụ án có người bị hại là người dưới 18 tuổi bị xâm hại tình dục, bị bạo hành hoặc bị mua bán thì Tòa án phải xét xử kín; đối với những vụ án khác có yêu cầu của người dưới 18 tuổi, người đại diện của họ hoặc để giữ bí mật đời tư, bảo vệ người dưới 18 tuổi thì Tòa án cũng có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai theo quy định tại Điều 327 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Việc bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em đã được cụ thể hơn tại Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BTP-BCA-BLĐTBXH ngày 12/7/2011 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật hình sự đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải bảo đảm giữ bí mật thông tin cá nhân của người chưa thành niên trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Ở cấp độ Châu lục, Hội đồng Bộ trưởng Châu Âu cũng đã có hướng dẫn về tư pháp thân thiện với trẻ em năm 2010, trong đó đưa ra 05 nguyên tắc cơ bản về tư pháp thân thiện với trẻ em bao gồm: bảo đảm sự tham gia của trẻ em, bảo vệ khỏi sự phân biệt đối xử, bảo vệ tốt nhất quyền của trẻ em, bảo vệ phẩm giá, nhà nước pháp quyền.

II. Trợ giúp pháp lý thân thiện với người chưa thành niên

Như chúng ta đã biết, do đặc điểm về khả năng nhận thức, tâm sinh lý đặc thù trẻ em là đối tượng cần có sự quan tâm đặc biệt của xã hội về các mặt liên quan đến sự phát triển của trẻ em như: giáo dục, y tế, văn hóa, phòng chống bạo lực,…Ở góc độ bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ em trước pháp luật, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định trẻ em là đối tượng được trợ giúp pháp lý (so với Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 thì đã được mở rộng hơn)[3]

Để có thể giúp đỡ pháp lý cho đối tượng này đạt kết quả cao nhất thì các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý cũng cần có những nghiên cứu để có phương thức thực hiện trợ giúp pháp lý thích hợp nhất. Cách thức được nhắc tới nhiều trong thời gian gần đây là trợ giúp pháp lý thân thiện với trẻ em. Đến nay chưa có tài liệu nào có định nghĩa chính thức về khái niệm này. Hướng dẫn số 58 tại bản Các quy tắc và hướng dẫn của Liên hợp quốc về tiếp cận TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự định nghĩa “Trợ giúp pháp lý thân thiện với trẻ em là việc cung cấp trợ giúp pháp lý cho trẻ em trong quá trình tố tụng hình sự, dân sự, hành chính mà mọi người có thể tiếp cận được, phù hợp với độ tuổi, đa ngành và có hiệu quả, và đáp ứng một loạt các nhu cầu pháp lý và xã hội đối mặt với trẻ em và thanh thiếu niên. Trợ giúp pháp lý thân thiện với trẻ em được thực hiện bởi các luật sư và những người không phải luật sư nhưng được đào tạo về pháp luật liên quan đến trẻ em và sự phát triển của trẻ em và vị thành niên và người có khả năng giao tiếp hiệu quả với trẻ em và người chăm sóc của trẻ”.

Từ khái niệm này Liên hợp quốc khuyến nghị các quốc gia cần có các biện pháp thích hợp để thiết lập hệ thống trợ giúp pháp lý thân thiện và nhạy cảm với trẻ em. Hệ thống này phải tính đến năng lực đang phát triển của trẻ em cân bằng giữa lợi ích tốt nhất của trẻ em và quyền của trẻ em được có tiếng nói trong các thủ tục tư pháp. Để thiết lập hệ thống TGPL thân thiện với trẻ em, các quốc gia cần thực hiện một số công việc sau:

- Trong điều kiện có thể xây dựng các cơ chế dành riêng để hỗ trợ trợ giúp pháp lý chuyên biệt cho trẻ em;

- Pháp luật về trợ giúp pháp lý có tính đến các quyền và nhu cầu phát triển đặc biệt của trẻ em, trong đó có quyền được trợ giúp pháp lý và hỗ trợ phù hợp khác trong việc bảo vệ quyền lợi của trẻ; quyền được có tiếng nói trong tất cả các thủ tục tố tụng tư pháp ảnh hưởng đến trẻ; các thủ tục đạt chuẩn để xác định lợi ích tốt nhất; sự riêng tư và việc bảo vệ các dữ liệu cá nhân; và quyền được xem xét để chuyển hướng xử lý;

- Xây dựng các tiêu chuẩn về dịch vụ trợ giúp pháp lý và quy tắc ứng xử chuyên môn thân thiện với trẻ em;

-Đào tạo đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý về quyền trẻ em và các vấn đề liên quan.

Từ nghiên cứu chúng tôi sơ bộ đưa ra khái niệm này như sau: Trợ giúp pháp lý thân thiện với trẻ em là cách thức cung cấp dịch vụ pháp lý phù hợp với đặc điểm về thể chất và tâm sinh lý của trẻ em, do những người có kiến thức về pháp luật liên quan đến trẻ em và tâm sinh lý của trẻ em thực hiện.

Từ những phân tích nêu trên chúng tôi đề xuất một số yêu cầu đối với TGPL thân thiện với trẻ em như sau:

1. Đối với người thực hiện trợ giúp pháp lý

Cần xây dựng đội ngũ người thực hiện TGPL có kiến thức chuyên sâu về pháp luật liên quan đến trẻ em (quyền và nghĩa vụ của trẻ em, các quy định xử lý hành chính, xử lý hình sự đối với trẻ em), được trang bị kiến thức về tâm sinh lý của trẻ em. Cụ thể, người thực hiện TGPL cho trẻ em cần đáp ứng một số yêu cầu sau:

- Có trình độ và kiến thức sâu rộng về các lĩnh vực pháp luật, đặc biệt là pháp luật liên quan đến trẻ em để có thể áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc cụ thể;

- Nắm vững các quyền của trẻ em và các nguyên tắc thường được áp dụng khi xử lý các vụ việc liên quan đến trẻ em;

- Có kiến thức về tâm, sinh lý của lứa tuổi này. Những kiến thức này góp phần giúp người thực hiện TGPLtrong việc hiểu và lý giải được nguyên nhân dẫn đến việc trẻ có hành vi trái pháp luật, đồng thời có được kiến thức này sẽ giúp việc gặp gỡ, trao đổi thông tin thuận lợi hơn, trẻ em sẽ có thể cởi mở chia sẻ với người đồng cảm với mình;

- Có kinh nghiệm và kỹ năng làm việc với trẻ em; có khả năng nắm bắt, phân tích diễn biến tâm lý của trẻ em;

- Có sự cảm thông, thấu hiểu để nắm được tâm tư, tình cảm, nguyện vọng,… của các em. Khi giúp đỡ trẻ em vi phạm pháp luật, người thực hiện trợ giúp pháp lý không nên có tâm lý ác cảm, mặc nhiên cho rằng trẻ em có lỗi mà cần tìm hiểu hoàn cảnh, nguyên nhân phạm tội của các em để đứng về phía các em, bảo vệ quyền lợi;

- Có mối quan hệ làm việc tốt với các cơ quan có liên quan để thuận lợi trong quá trình thu thập thông tin, xác minh, tìm hiểu tình tiết liên quan đến vụ việc.

2. Tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em tiếp cận trợ giúp pháp lý

Một trong những yếu tố để bảo đảm cho trẻ em thụ hưởng quyền được TGPL là cần tạo điều kiện cho các em tiếp cận với dịch vụ này một cách dễ dàng và kịp thời, cụ thể, có thể thông qua một số cách thức sau:

- Tổ chức thực hiện TGPL có thể cử người thực hiện TGPL trực tại tòa án, cơ quan điều tra, trại tạm giam, nhà tạm giữ để gặp gỡ, tiếp xúc với các em ngay từ khi tiếp cận với cơ quan tiến hành tố tụng. Đặc biệt, hiện nay, Tòa án Gia đình và Người chưa thành niên đã được thành lập tại thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Tháp, tổ chức thực hiện TGPL cần cử người thực hiện TGPL để ban đầu tư vấn cho các em về thủ tục giải quyết vụ việc, giải thích quyền và nghĩa vụ của các em khi tham gia tố tụng, giải thích về quyền được TGPL và tiếp nhận thực hiện vụ việc khi có yêu cầu. Mô hình này đã được áp dụng tại Úc, Canada,…

- Phối hợp với các trường học nắm bắt nhu cầu tìm hiểu về pháp luật TGPL của học sinh, đến giải đáp trực tiếp cho các em, đồng thời, trực tiếp tiếp nhận yêu cầu TGPL ngay tại trường học.

- Thiết lập đường dây nóng tiếp nhận yêu cầu TGPL 24/24 giờ, tiếp nhận thông tin, giải đáp pháp luật về TGPL cho các em.

3. Bảo đảm sự tham gia tối đa của trẻ em trong quá trình giải quyết vụ việc

Bên cạnh các nghiệp vụ thu thập thông tin, nghiên cứu xử lý hồ sơ vụ việc, làm việc với các cơ quan có liên quan, người thân thích, nhà trường,… người thực hiện TGPL cần trực tiếp gặp gỡ, trao đổi với trẻ em là đối tượng của vụ việc, sử dụng các kỹ năng phù hợp để trẻ chủ động kể lại sự việc (trong một số trường hợp trẻ em sẽ tâm sự với người thực hiện TGPL về hoàn cảnh gia đình, về những suy nghĩ riêng tư….).Qua đó, người thực hiện TGPL có thể thu thập được những thông tin chính xác, đầy đủ về vụ việc.

Khi làm việc với người chưa thành niên người thực hiện TGPL cần tạo bầu không khí thân thiện, thoải mái, cởi mở để em đó có thể nói lên những suy nghĩ, cảm xúc và mong muốn của mình bằng những câu hỏi nhẹ nhàng, gây ấn tượng. Khi nghe trẻ trình bày người thực hiện TGPL sử dụng tốt kỹ năng nghe tích cực. Việc tập trung lắng nghe sẽ làm cho trẻ em được khích lệ nói lên những suy nghĩ của mình, bằng giác quan và suy nghĩ của mình cán bộ có thể nhận biết được cảm xúc của trẻ và thu thập được các thông tin về tình huống và sự việc phục vụ cho việc trợ giúpnhằm đạt được các mục đích trên thì sẽ có kết quả tốt cho mối quan hệ giữa người trợ giúp và người được trợ giúp…từ đó sẽ xác định được phương pháp trợ giúp phù hợp.

4. Xây dựng quan hệ với các cơ quan có liên quan

- Hợp tác với các cơ quan tư pháp trong quá trình giải quyết vụ việc nhằm mang lại những lợi ích tốt nhất và đảm bảo các quyền của người chưa thành niên.

- Nỗ lực mang lại sự an toàn về thể chất, tâm lý cho người chưa thành niên, giúp các em tái hoà nhập cộng đồng và thực hiện các quyền tư pháp của mình.

5. Bảo đảm sự bảo mật và riêng tư của trẻ em

Sự riêng tư và dữ liệu cá nhân của một trẻ em đang hoặc đã liên quan với các thủ tục tố tụng tư pháp hoặc phi tư pháp và can thiệp khác cần được bảo vệ ở tất cả các giai đoạn, và việc bảo vệ như vậy cần được pháp luật bảo đảm. Trẻ em là đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi việc mất danh dự. Việc tôn trọng quyền riêng tư có vai trò quan trọng đối với việc bảo vệ phẩm giá của trẻ em cũng như giúp giảm nguy cơ tổn thương cho các em. Trẻ em trong hệ thống tư pháp hình sự có nguy cơ bị kỳ thị rất cao và có thể phải chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực từ sự kỳ thị, định kiến trong cộng đồng.Chính vì vậy, khi những thông tin nhạy cảm của các em bị công khai sẽ dẫn tới những tác động tiêu cực, khiến trẻ em không còn tin tưởng vào người thực hiện TGPL, từ đó không hợp tác.  Đặc biệt, bảo đảm bí mật riêng tư đối với trẻ em bị hại hoặc là người làm chứng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ phẩm giá của con người cũng như sự an toàn, phúc lợi và lắng nghe của họ. Việc bảo đảm quyền riêng tư cũng góp phần giúp trẻ em cảm thấy an toàn trong cộng đồng, thấy yên tâm hơn để cung cấp thông tin đúng sự thật giúp cho cho quá trình giải quyết vụ án đúng pháp luật và kịp thời. Hơn nữa, nếu sự riêng tư không được bảo vệ thì ảnh hưởng lớn đến quá trình tái hòa nhập cộng đồng của các em sau này. Yêu cầu này cũng phù hợp với hướng dẫn của Liên hợp quốc về tiếp cận trợ giúp pháp lý trong hệ thống tư pháp hình sự[4].

6. Cơ sở vật chất phù hợp

Tổ chức thực hiện TGPL cần cơ sở vật chất (phòng tiếp người được TGPL, cách bài trí trong phòng) để có thể tạo cảm giác thân thiện nhất với trẻ em. Trong phạm vi điều kiện cụ thể có thể bố trí phòng tiếp riêng dành cho trẻ em, trong đó có treo các tranh ảnh phù hợp với sở thích, gu thẩm mỹ của trẻ em. Khi điều kiện chưa cho phép bố trí phòng riêng thì có thể tiếp trẻ em tại một phòng làm việc mà các em có thể cảm thấy an toàn khi trình bày vụ việc của mình.

III. Tính tương thích của pháp luật Việt Nam trong trợ giúp pháp lý thân thiện với trẻ em

Trẻ em là đối tượng TGPL đặc thù với những đặc điểm riêng về thể chất cũng như tâm lý nên thời gian qua hoạt động TGPL cho trẻ em luôn được các tổ chức TGPL quan tâm nghiên cứu phương thức thực hiện TGPL có hiệu quả, huy động các nguồn lực, hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL cho trẻ em, góp phần tạo lập nền tư pháp thân thiện với trẻ em.

1. Về người thực hiện trợ giúp pháp lý

Với điều kiện nguồn nhân lực thực hiện TGPL còn hạn chế, đối tượng TGPL rộng nên hiện nay chưa cho phép các tổ chức thực hiện TGPL bố trí nhóm Trợ giúp viên pháp lý chuyên trách thực hiện TGPL cho từng đối tượng đặc thù. Đối với luật sư, pháp luật cho phép các Trung tâm TGPL căn cứ vào yêu cầu cụ thể của từng địa phương (nhu cầu TGPL cụ thể của từng nhóm đối tượng đặc thù, số lượng Trợ giúp viên pháp lý, điều kiện giao thông đi lại,…) để lựa chọn những luật sư có trình độ, kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm phù hợp để ký hợp đồng thực hiện TGPL[5].

Điều kiện tiêu chuẩn về trình độ cũng như năng lực thực hành nghề nghiệp của người thực hiện TGPL được quan tâm. Cụ thể:

Về thể chế: Điều 19 Luật TGPL năm 2017 đã chuẩn hóa Trợ giúp viên pháp lý để có tiêu chuẩn tương đương với luật sư[6]. Quy định này bảo đảm Trợ giúp viên pháp lý ở nền tảng kiến thức pháp luật đầy đủ của người cung cấp dịch vụ TGPL, đồng thời có kinh nghiệm hành nghề - một trong những bảo đảm để có dịch vụ TGPL có chất lượng. Điểm b khoản 2 Điều 18 Luật TGPL quy định Trợ giúp viên pháp lý có nghĩa vụ tham gia các khóa tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ TGPL. Khoản 2Điều 4 Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28/8/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định các nội dung tập huấn bắt buộc bao gồm: Kiến thức pháp luật cần thiết cho việc thực hiện trợ giúp pháp lý; Các kỹ năng thực hiện trợ giúp pháp lý; Quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở các quy định này, Trợ giúp viên pháp lý sẽ chủ động

Về việc bồi dưỡng tăng cường năng lực cho người thực hiện TGPL: hàng năm, Cục Trợ giúp pháp lý có mở các lớp tập huấn bổ sung kiến thức pháp luật cũng như chuyên môn, nghiệp vụ cho người thực hiện TGPL. Đặc biệt, các lớp tập huấn về kỹ năng TGPL cho trẻ em được mở tại các khu vực (Bắc, Trung, Nam) nên đội ngũ người thực hiện TGPL đều có cơ hội tham gia. Giảng viên của lớp tập huấn đều là những người có kiến thức sâu rộng trong các lĩnh vực pháp luật liên quan đến trẻ em, có kinh nghiệm thực tiễn tham gia thực hiện các vụ việc TGPL cho trẻ em, có phương pháp sư phạm. Nội dung các lớp tập huấn khá toàn diện: kiến thức pháp luật (luật nội dung và luật hình thức), các kỹ năng làm việc với trẻ em ở từng giai đoạn tố tụng, từng trẻ em với hoàn cảnh đặc thù, tâm sinh lý lứa tuổi…. Do đó, người thực hiện TGPL sau khi tham gia lớp tập huấn đều đánh giá cao chất lượng bồi dưỡng, cho rằng nội dung thật sự hữu ích đối với công việc.

Có thể nói, với hơn 20 năm hình thành và phát triển, đến nay hệ thống TGPL tại Việt Nam đã có đội ngũ người thực hiện TGPL có đầy đủ kiến thức pháp luật, kiến thức xã hội và kỹ năng, bảo đảm đáp ứng có hiệu quả nhu cầu TGPL của trẻ em.

2. Về tạo điều kiện thuận lợi tối đa để trẻ em tiếp cận trợ giúp pháp lý

Hướng tới mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi cho người được TGPL dễ dàng tiếp cận với dịch vụ TGPL,theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Trợ giúp pháp lý thì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý bố trí nơi tiếp người được trợ giúp pháp lý tại trụ sở của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc địa điểm khác ngoài trụ sở của tổ chức bảo đảm điều kiện để việc trình bày yêu cầu được dễ dàng, thuận lợi.

Khoản 1 Điều 12 Thông tư số 12/2018/TT-BTP quy định “Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm bố trí địa điểm thuận lợi cho người được trợ giúp pháp lý tiếp cận và trình bày yêu cầu trợ giúp pháp lý. Trong trường hợp nội dung vụ việc trợ giúp pháp lý cần được giữ bí mật thì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý bố trí địa điểm phù hợp”.

Các quy định trên đây là cơ sở pháp lý để các tổ chức thực hiện TGPL bố trí nơi tiếp phù hợp đối với trẻ em. Đối với các tổ chức có trụ sở rộng có thể bố trí 01 phòng làm việc riêng tại tầng 1 để tiếp trẻ em. Việc này vừa tạo cảm giác an toàn cho trẻ em, vừa bảo đảm bảo mật sự riêng tư, đặc biệt có ý nghĩa rất lớn trong những vụ việc người được trợ giúp pháp lý là trẻ em bị xâm hại.

3. Sự phối hợp với các cơ quan liên quan

Về cơ sở pháp lý: Luật TGPL và các văn bản hướng dẫn thi hành có một số quy định nhằm tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức đối với hoạt động TGPL, cụ thể:

- Về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng: Luật TGPL quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng phối hợp tạo điều kiện cho người được TGPL được hưởng quyền TGPL, tạo điều kiện cho người thực hiện TGPL tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.  Khoản 3 Điều 31 Luật TGPL quy định trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý của người bị bắt, người bị tạm giữ hoặc trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý của bị can, bị cáo, người bị hại là người được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tại địa phương. Quy định này cụ thể hơn về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng đã được ghi nhận tại Điều 75 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đồng thời bảo đảm để Trung tâm TGPL nhà nước cử người thực hiện TGPL kịp thời trong thời hạn tạm giữ, tạm gia theo quy định.

Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC quy định về phối hợp TGPL trong hoạt động tố tụng ngày 21/6/2018 đã cụ thể trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ sở giam giữ, trại tạm giam, người có thẩm quyền trong cơ sở giam giữ, trại tạm giam trong việc thông báo, thông tin, giải thích quyền được TGPL, chuyển yêu cầu TGPL,…

- Điều 42 Luật TGPL quy định trong quá trình thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình nếu phát hiện công dân thuộc diện được TGPL, cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải thích quyền được TGPL và giới thiệu đến tổ chức thực hiện TGPL.

Có thể khẳng định những quy định nêu trên đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để bảo đảm trẻ em nói riêng và người được TGPL nói chung được thụ hưởng dịch vụ TGPL kịp thời.

4. Bảo vệ tối đa quyền lợi cho trẻ em

Do đặc thù hoạt động TGPL mang tính chất xã hội, giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, mang đến công lý cho người nghèo, người yếu thế mà không mang tính lợi nhuận, do vậy, đa số người thực hiện TGPL đều thực hiện công việc này với sự nhiệt tâm, yêu nghề. Do đó, tạo lập được mối quan hệ phối hợp tốt với các cơ quan có liên quan (đặc biệt là cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan liên quan công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em), qua đó các cơ quan đều có sự tin tưởng, sự thiện cảm và tạo điều kiện để các Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện vụ việc. Nhiều vụ việc TGPL cho trẻ em đã thành công, qua đó kịp thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho trẻ em./.

 


[1]khoản 1 Điều 3 Công ước quốc tế về quyền trẻ em

[2] 1. Các Quốc gia thành viên phải tôn trọng và bảo đảm những quyền được nêu ra trong Công ước này đối với mọi trẻ em thuộc quyền tài phán của họ mà không có bất cứ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc, sắc tộc hay xã hội, tài sản, khuyết tật, thành phần xuất thân hay địa vị khác của trẻ em hoặc cha mẹ hay người giám hộ hợp pháp của trẻ em đó.

 

2. Các Quốc gia thành viên phải thi hành mọi biện pháp thích hợp để bảo đảm cho trẻ em được bảo vệ trước mọi hình thức phân biệt đối xử hoặc trừng phạt vì các lý do địa vị, hoạt động, những ý kiến phát biểu hoặc tín ngưỡng của cha mẹ, người giám hộ pháp lý hoặc những thành viên khác trong gia đình của trẻ em.

[3] theo Luật TGPL 2006 trẻ em không nơi nương tựa thuộc đối tượng TGPL

[4]Bí mật và những dữ liệu cá nhân của trẻ em đã tham gia thủ tục tư pháp hoặc thủ tục khác và các biện pháp can thiệp khác cần được bảo vệ tại tất cả các giai đoạn và việc bảo vệ này phải được luật pháp bảo đảm. Điều này có nghĩa là không có thông tin hoặc dữ liệu cá nhân nào được công bố công khai đặc biệt là trên phương tiện thông tin đại chúng dẫn đến việc có thể làm lộ hoặc gián tiếp công bố …bao gồm cả hình ảnh của trẻ em, giới thiệu về trẻ em hoặc gia đình trẻ, tên, địa chỉ của các thành viên trong gia đình và hồ sơ âm thanh, hình ảnh

[5] khoản 3 Điều 14 Luật TGPL

Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước căn cứ vào nhu cầu trợ giúp pháp lý, nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương lựa chọn, ký kết hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với luật sư có đủ điều kiện sau đây

[6] Điều 18 Luật TGPL

1. Có phẩm chất đạo đức tốt;

2. Có trình độ cử nhân luật trở lên;

3. Đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý;

4. Có sức khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý;

5. Không đang trong thời gian bị xử lý kỷ luật.

 

Loại tin tức: